Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN


Bản án số: 33 /2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 01 - 2021
V/v tranh chấp: “Ly hôn, con chung"
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Lê Thị Hường
  • Bà Bá Thị Thu Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2020/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2020, về việc tranh chấp: "Ly hôn, con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXX-ST, ngày 07-01-2021.

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm: 1979 (có mặt).
    Địa chỉ: Khu phố x, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  2. Bị đơn: Ông Trần Minh M, sinh năm: 1976 (có mặt).
    Địa chỉ: Số nhà y, Khu phố z, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trần Thanh Thủy, Luật sư thuộc văn phòng Luật sư Thanh Thủy, Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận.
    Địa chỉ: Số nhà h, đường H, Khu phố j, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Bà N, ông M tự tìm hiểu được 2 bên gia đình chấp nhận, về chung sống năm 1999, năm 2004 có đến UBND thị trấn P đăng ký kết hôn; quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng năm 2012 xảy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông M “Ghen” vô cớ về chửi mắng đánh đập bà N nhiều lần; vì hạnh phúc gia đình bà N chịu đựng khuyên ông M thay đổi tính, nhưng ông M tính nào tật ấy tiếp tục đánh đập bà N và còn dùng dao hâm dọa bà N, bà N thấy tình cảm của ông M đối với bà không còn nên bà sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay.

Nay bà N xét thấy tình cảm giữa bà với ông M không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông M.

Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Đại C, sinh ngày 09-04-2000 (trưởng thành), Trần Đại L, sinh ngày 29-05-2005 chưa trưởng thành; hiện con chung chưa trưởng thành ông M đang chăm sóc, bà N đồng ý để ông M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N, ông M tự nguyện thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về thu nhập: Bà N mỗi tháng thu nhập 7.000.000 đồng (làm thuê).

Bị đơn M trình bày: Ông với bà N tự tìm hiểu được 2 bên gia đình chấp nhận, về chung sống năm 1999, năm 2004 có đến UBND thị trấn P đăng ký kết hôn; quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng năm 2012 xảy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông đi làm bà N ở nhà không lo nội trợ gia đình, bỏ đi chơi nên ông bức xúc đánh bà N, nên bà N bỏ nhà đi và ông với bà N sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay không liên lạc với nhau; nhưng ông M cho rằng hiện nay tình cảm giữa ông với bà N vẫn còn nay bà N xin ly hôn, ông M không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Đại C, sinh ngày 09-04-2000 (trưởng thành), Trần Đại L, sinh ngày 29-05-2005 chưa trưởng thành; hiện con chung chưa trưởng thành ông M đang chăm sóc và ông yêu cầu được tiếp tục, trực tiếp chăm sóc cháu L, ông không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông M, bà N tự nguyện thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về thu nhập: Ông M mỗi tháng thu nhập khoảng 2.000.000 đồng (làm thuê).

Về nguyện vọng cháu L: mong muốn được chung sống với ông M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: "Ly hôn, nuôi con chung"

[2] Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Về hôn nhân: Bà Lê Thị N, ông Trần Minh M tự tìm hiểu chung sống với nhau năm 1999, năm 2004 có đến cơ quan cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng năm 2012 xảy ra mâu thuẫn, không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, không quan tâm đến nhau, không có trách với nhau, tình cảm lạnh nhạt sống ly thân. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N, ông M cuộc sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Bà N xin ly hôn ông M là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

[4] Về con chung: Có 01 đứa con chung chưa trưởng thành tên Trần Đại L, sinh ngày 29-05-2005 hiện con chung ông M đang chăm sóc; bà N đồng ý giao cho ông M trực tiếp nuôi và phù hợp với nguyện vọng con chung nên Hội đồng xét xử giao cho ông M trực tiếp chăm sóc cháu L là có căn cứ.

[5] Về cấp dưỡng; Ông M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 38; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị N, bà Lê Thị N được ly hôn ông Trần Minh M.

Về con chung: Giao cho ông Trần Minh M trực tiếp nuôi 01 con chung tên Trần Đại L, sinh ngày 29-05-2005 hiện con chung ông M đang chăm sóc. Về cấp dưỡng: Bà Lê Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Buộc bà Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà N đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0025349 ngày 10-11-2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND huyện N;
- THADS huyện N;
- UBND T.T P (để biết);
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa



Đoàn Sửu
Các Hội thẩm nhân dân


Lê Thị Hường; Bá Thị Thu Vân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa


Đoàn Sửu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2021/HNGĐ-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 33/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung giữa bà N và ông M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger