|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LA Bản án số: 33/2021/HNGĐ-PT Ngày: 27-10-2021 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh.
Các Thẩm phán: 1. Bà Huỳnh Thị Hồng Vân.
2. Bà Trịnh Thị Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh LA.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 27 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh LA xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2021/TLPT-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2021 về “tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 31/2020/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện MH bị kháng cáo và bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 33/2021/QĐ-PT ngày 13 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số 08, ấp 1, xã BHĐ, huyện MH, tỉnh LA.
Bị đơn: Ông Trịnh Xuân Đ, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số 08, ấp 1, xã BHĐ, huyện MH, tỉnh LA.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Hòa Bình - Văn phòng luật sư Nguyễn Hòa Bình thuộc Đoàn Luật sư tỉnh LA.
Người kháng cáo: Ông Trịnh Xuân Đ.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LA.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/4/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị L trình bày:
Bà và ông Trịnh Xuân Đ chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại UBND xã Vũ Xá, huyện KĐ, tỉnh HY. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu khoảng 04 - 05 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn nên ông bà đã sống ly thân được hơn 01 năm. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi vã và xô xát. Ông Đ thường có hành vi chửi và đánh gây thương tích cho bà nên bà yêu cầu ly hôn với ông Trịnh Xuân Đ.
Về con chung: Bà và ông Đ có 03 người con tên Trịnh Thế A, sinh ngày 25/7/2002; Trịnh Cẩm N, sinh ngày 03/11/2004 và Trịnh Bùi Hoàng L, sinh ngày 21/4/2012. Các con có nguyện vọng muốn sống với ai thì giao con cho người đó, nếu các con muốn sống với bà thì bà đồng ý nuôi và yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung gồm có: Thửa đất số 653, tờ bản đồ số 7, diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 322m2 (thực tế đo đạc là 337m2), loại đất trồng cây lâu năm khác và một căn nhà trên thửa 653, diện tích 145,7m2, nhà và đất tọa lạc tại ấp 1, xã BHĐ, huyện MH, tỉnh LA do ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; một dây chuyền xay xát lúa và một xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Future biển số 62T1- 08910 do ông Đ đứng tên giấy đăng ký xe. Bà L yêu cầu chia đôi tài sản chung, bà yêu cầu được nhận hiện vật.
Về nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Trịnh Xuân Đ trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và về con chung. Ông cũng thừa nhận khi vợ chồng cãi nhau ông có nóng tính và đánh bà L. Bà yêu cầu ly hôn, ông cũng đồng ý ly hôn; đồng ý việc nuôi con chung tùy thuộc vào nguyện vọng của các con, nếu ông nuôi con, ông không yêu cầu bà L cấp dưỡng. Về tài sản chung ông đồng ý các tài sản như bà L trình bày là tài sản chung, tuy nhiên, ngoài các tài sản đó còn có 05 chỉ vàng 24K (dây chuyền và mặt dây chuyền) và 78.000.000 (bảy mươi tám triệu) đồng tiền mặt là tiền bán lúa do bà L cất giữ. Ông yêu cầu chia đôi tài sản chung, người nào nhận hiện vật thì hoàn giá trị cho người kia. Ông yêu cầu được nhận hiện vật.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 31/2020/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện MH đã tuyên xử:
- Căn cứ vào Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị L đối với ông Trịnh Xuân Đ, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà L và ông Đ.
- Căn cứ vào Điều 69, Điều 70, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Bùi Thị L, bà L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trịnh Cẩm N, sinh ngày 03/11/2004 và Trịnh Bùi Hoàng L, sinh ngày 21/4/2012, con chung hiện đang sống với bà L.
- Căn cứ vào các Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình: Ông Trịnh Xuân Đ phải cấp dưỡng nuôi hai con chung Trịnh Cẩm N và Trịnh Bùi Hoàng L mỗi con chung mỗi tháng là 745.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Xuân Đ và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LA đều trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung tranh chấp: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 1 ngày 07/5/2001 của Ủy ban nhân dân xã Vũ Xá, huyện KĐ, tỉnh HY thì bà Bùi Thị L và ông Trịnh Xuân Đ là vợ chồng hợp pháp.
[2.2] Bà L và ông Đ thống nhất tài sản chung của vợ chồng theo Chứng thư thẩm định giá số 2021044.IVC-CT ngày 26/5/2021 của Công ty Cổ phần đầu tư và thẩm định giá Hội Nhập bao gồm: Thửa đất số 653, tờ bản đồ số 7, diện tích 322m2 (diện tích đo đạc thực tế là 337m2), loại đất trồng cây lâu năm khác, do ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trị giá 408.432.273 đồng; một căn nhà trên thửa 653, diện tích 145,7m2, là loại nhà riêng lẻ một tầng, giá trị còn lại 272.087.465 đồng; một dây chuyền xay xát lúa đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 45.000.000 đồng; một xe máy Honda Future biển số 62T1- 08910, xe đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 8.500.000 đồng; trạm biến áp 1x25 KVA giá trị 35.000.000 đồng. Tổng cộng là 769.019.738 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 293, 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trịnh Xuân Đ. Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LA.
Cải sửa một phần bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 31/2020/HNGĐ-ST ngày 03/12/2020 của Toà án nhân dân huyện MH, tỉnh LA.
[1] Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của bà Bùi Thị L và ông Trịnh Xuân Đ; bà L và ông Đ không còn là quan hệ vợ chồng.
[2] Về con chung: Bà Bùi Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trịnh Cẩm N, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2004 và Trịnh Bùi Hoàng L, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2012.
[3] Về cấp dưỡng: Buộc ông Trịnh Xuân Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung tên Trịnh Cẩm N và Trịnh Bùi Hoàng L mỗi con là 745.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[4] Về tài sản chung:
[4.1] Bà Bùi Thị L được quyền quản lý, sử dụng, sở hữu các tài sản sau đây: Khu B của Mảnh trích đo địa chính số ….-2021 ngày 21/10/2021 có diện tích 170,6m2 thuộc một phần thửa đất số 653, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp 1, xã BHĐ, huyện MH, tỉnh LA; Một căn nhà trên phần đất thuộc khu B; Một dây chuyền xay xát lúa; Một xe máy nhãn hiệu Honda biển số 62T1- 08910; Trạm biến áp 1x25 KVA.
[4.2] Ông Trịnh Xuân Đ được quyền quản lý, sử dụng phần đất: Khu A của Mảnh trích đo địa chính số ….-2021 ngày 21/10/2021 có diện tích 166,4m2 thuộc một phần thửa đất số 653, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp 1, xã BHĐ, huyện MH, tỉnh LA.
[5] Bà Bùi Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trịnh Xuân Đ số tiền 182.838.893 đồng.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Cảnh |
Bản án số 33/2021/HNGĐ-PT ngày 27/10/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh LA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 33/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh LA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo, chấp nhận kháng nghị, sửa một phần bản án sơ thẩm
