|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 33/2020/HNGĐ-ST Ngày 02 – 12 – 2020 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Huy Cảm
2. Ông Hoàng Văn Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Khánh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Ngày 02 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2020/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXX-ST ngày 09 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Hồng N (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
ĐKHKTT : phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nơi ở hiện nay: thành phố L, tỉnh Lào Cai
Bị đơn: Anh Ngô Quang Đ (vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Đỗ Thị Hồng N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Quang Đ đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 3 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, hay bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng xảy ra xích mích, đánh, cãi, chửi nhau, anh Đ có lần đánh chị N phải đi bệnh viện cấp cứu, ngoài ra anh Đ còn nhắn tin xúc phạm chị N và mẹ đẻ chị N. Tuy mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải, nhưng tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh Đ không cải thiện được, mâu thuẫn giữa chị và anh Đ ngày càng trầm trọng, chị N đã về nhà chị gái chị N sinh sống, nên chị và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 10/2020 đến nay không ai quan tâm đến ai, cuộc sống vợ chồng anh chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tháng 9/2020 chị N đã nộp đơn thuận tình ly hôn tại Tòa án, nhưng anh Đ không đến Tòa nên không giải quyết được. Đến nay chị N xét thấy tình cảm giữa chị và anh Đ không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vì vậy, chị Đỗ Thị Hồng N có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Quang Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Trang A, sinh ngày 28/9/2015. Khi ly hôn, chị Đỗ Thị Hồng N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngô Trang A đến đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Ngô Quang Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay chị N đang kinh doanh mỹ phẩm tại nhà, thu nhập trung bình hàng tháng là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).
Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị Hồng N không đề nghị Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về mối quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, theo khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
[2] Về thủ tục tố tung: Quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Ngô Quang Đ theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của chị Đỗ Thị Hồng N. Chị Đỗ Thị Hồng N đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, bị đơn anh Ngô Quang Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Chị Đỗ Thị Hồng N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đỗ Thị Hồng N và anh Ngô Quang Đ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Hồng N trên cơ sở căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị Đỗ Thị Hồng N và anh Ngô Quang Đ đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 3 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện. Do vậy, xác định hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Hồng N và anh Ngô Quang Đ là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xác định lời khai của chị Đỗ Thị Hồng N về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ như: Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh Ngô Quang Đ và chị Đỗ Thị Hồng N viết ngày 12/4/2020, bản ảnh chụp thương tích của chị Đỗ Thị Hồng N ngày 17/01/2019. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của chị N. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Đ đã kéo dài, thời gian sống ly thân đã lâu, hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Hồng N. Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Hồng N và anh Ngô Quang Đ là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Trang A, sinh ngày 28/9/2015. Chị Đỗ Thị Hồng N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngô Trang A đến đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Ngô Quang Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu xin nuôi con của chị Đỗ Thị Hồng N thấy: Hiện nay chị N đang kinh doanh mỹ phẩm tại nhà, có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh do Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố Lào Cai cấp, đăng ký lần đầu ngày 19/12/2017, tên hộ kinh doanh: Đỗ Thị Hồng N; Ngành nghề kinh doanh: Mua, bán mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, sữa, lương thực, thực phẩm. Thu nhập trung bình hàng tháng là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng). Hơn nữa cháu Ngô Trang A, sinh ngày 28/9/2015 là con gái, còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ, chị N kinh doanh tại nhà, có thu nhập ổn định, có thời gian, đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngô Trang A, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị Đỗ Thị Hồng Nung và giao cháu cháu Ngô Trang A, sinh ngày 28/9/2015 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu Ngô Trang A đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Thị Hồng N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Đỗ Thị Hồng N phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Hồng N.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Hồng N và anh Ngô Quang Đ. Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Hồng N và anh Ngô Quang Đ chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con: Giao cháu Ngô Trang A, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Đỗ Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Ngô Quang Đ có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Hồng N phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008649 ngày 14 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chị Đỗ Thị Hồng N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh (1); - VKSNDTP (2); THADS (1); - UBND phường Duyên Hải, Thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Nơi ĐKKH ngày 20/3/2018) (1); - Các đương sự (2); - Lưu hồ sơ vụ án (1); - Lưu văn phòng (1). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Mai Phương |
Bản án số 33/2020/HNGĐ-ST ngày 02/12/2020 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 33/2020/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị N và anh Đ ly hôn
