Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH TRỊ

TỈNH SÓC TRĂNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 32A/2024/DS-ST

Ngày: 03-6-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Ngô Văn Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2024/TLST-DS ngày 29/01/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-DS ngày 10/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐST-DS ngày 23/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn T. Địa chỉ: Số B - B đường N, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hàng S (Công ty S).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T, chức vụ tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1993 – Chức vụ: Nhân viên công ty TNHH MTV Q nợ và khai thác tài sản ngân hàng S. (Vắng mặt, có đơn)

Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lý Đ, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 10 năm 2023 và tại bản tự khai, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thành N trình bày như sau: Ngày 27/5/2019 ông Lý Đ có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Lý Đ, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Lý Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31.115.850 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Lý Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 21.150.000 đồng (căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần liên lạc làm việc, nhắc nhở nhưng ông Lý Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Lý Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ngày 23/9/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 29.209.475 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3,9%/tháng (= Lãi suất trong hạn 2,6%/tháng x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông Lý Đ có trách nhiệm thanh toán nhưng ông Đ vẫn không trả khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Ngân hàng yêu cầu khởi kiện buộc ông Lý Đ phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 03/6/2024 là 66.611.895 đồng trong đó: tiền nợ gốc là 29.209.475 đồng, lãi quá hạn là 37.402.420 đồng. Ông Lý Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 04/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Lý Đ có lời trình bày: Lúc tôi còn đi làm trên thành phố tại một cơ sở may, tôi được bà chủ giới thiệu cho tôi làm thẻ tín dụng của Ngân hàng S1 do nhân viên tư vấn phát hành thẻ là bạn của bà chủ, hạn mức mở thẻ là 25.000.000 đồng tôi đồng ý mở nên đưa căn cước công dân và phô tô sổ hộ khẩu đưa cho bà chủ để bà làm thẻ cho tôi. Tuy nhiên bà chủ nói với tôi là muốn mở thẻ tín dụng thì phải mua bảo hiểm nên tôi ký tên vào hợp đồng mua bảo hiểm và hợp đồng mở thẻ sau đó khoảng 02 tháng nhân viên Ngân hàng (là bạn với bà chủ) mới giao thẻ tín dụng và thông báo với tôi đã mua bảo hiểm hết 16.000.000 đồng nên trong thẻ chỉ còn lại 9.000.000 đồng. Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu tôi trả số tiền tính đến ngày 15/5/2023 tổng cộng 51.992.675 đồng, trong đó, dư nợ gốc 29.209.475 đồng, lãi quá hạn 22.783.200 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 16/5/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã ký kết thì tôi chỉ đồng ý trả cho ngân hàng số tiền tôi đã sử dụng là 9.000.000 đồng và trả lãi trên số tiền này còn phần 16.000.000 đồng tôi không có sử dụng nên tôi không đồng ý trả. Do tôi không có khả năng nên tôi xin Ngân hàng cho tôi trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi trả hết gốc và lãi của số tiền 9.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến với nội dung chính như sau:

Về thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý, thu thập chứng cứ đều tuân đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 351 Bộ luật dân sự 2015. Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đề nghị HĐXX tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 27/5/2019 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Lý Đ thì đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn ông Lý Đ có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị giải quyết là phù hợp theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm b, Khoản 1 Điều 35, Điểm a, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án có tống đạt theo quy định pháp luật các văn bản tố tụng nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt). Phiên Tòa mở lần thứ hai nên căn cứ theo quy định Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Yêu cầu buộc ông Lý Đ phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 03/6/2024 là 66.611.895 đồng trong đó tiền nợ gốc là 29.209.475 đồng, lãi quá hạn là 37.402.420 đồng và ông Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 04/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nguyên đơn cung cấp cho Tòa án thể hiện vào ngày 27/5/2019 ông Lý Đ có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Lý Đ, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Ông Lý Đ đã ký kết hợp đồng và đồng ý bị ràng buộc nghĩa vụ và chịu trách nhiệm bởi bản Điều khoản và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là Đơn vị phát hành thẻ (sau đây gọi là bản Điều khoản). Nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phù hợp với quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực pháp luật. Ông Lý Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng số dư nợ còn lại, ngày 23/9/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 29.209.475 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3,9%/tháng (= Lãi suất trong hạn 2,6%/tháng x 150%) theo Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 và Khoản 4 Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, lãi suất Ngân hàng áp dụng là phù hợp với quy định pháp luật. Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông Lý Đ phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03/6/2024) là 66.611.895 đồng trong đó tiền nợ gốc là 29.209.475 đồng, lãi quá hạn là 37.402.420 đồng và ông Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 04/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13, 20, 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, khi ông Lý Đ không thanh toán đầy đủ tiền nợ gốc và lãi đúng hạn theo thỏa thuận, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng nêu trên, chuyển sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn là phù hợp. Đồng thời căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với lời trình bày của ông Lý Đ cho rằng khi nhận thẻ chỉ có 9.000.000 đồng còn 16.000.000 đồng đã bị rút để mua bảo hiểm nhưng ông Đ sau đó không có khiếu nại gì với ngân hàng về vấn đề này và vẫn tiếp tục sử dụng thẻ và có thanh toán nợ thẻ đến ngày 22/5/2021 sau đó không thanh toán nữa nên việc ông Đ cho rằng mình chỉ sử dụng số tiền 9.000.000 đồng trong thẻ và chỉ đồng ý trả tiền gốc và lãi trên số tiền này là không có cơ sở. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn ông Lý Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1, Điều 13, 20, 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, Nghị quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.

2. Buộc ông Lý Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền chưa thanh toán tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03/6/2024) là 66.611.895 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 29.209.475 đồng, lãi quá hạn là 37.402.420 đồng.

Thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền

3.Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lý Đ phải nộp số tiền là 3.330.594 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi nghìn năm trăm chín mươi bốn đồng). Ngân hàng TMCP S không phải nộp án phí. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 1.229.817 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi chín nghìn tám trăm mười bảy đồng theo biên lai thu số 0021741 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng TMCP S.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Thạnh Trị;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị;
  • - Chi cục THADS Quận 11,
  • Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tuyết Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32A/2024/DS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 32A/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S và ông Lý Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger