Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3296/2024/DS-ST

Ngày: 23-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    • 1/ Ông Mai Thanh Giàu

    • 2/ Ông Trần Đăng Vạn.

  • Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 647/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 4871/2024/QĐST-DS ngày 02/7/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4872/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

    Địa chỉ trụ sở chính: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1973.

    Địa chỉ: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Quyết định số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 của Ngân hàng TMCP S và Giấy ủy quyền số 5043/2023/GUQ-TGĐ ngày 24/12/2023 của Công ty TNHH Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S).

  2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị Hồng H, sinh năm 1993.

    Địa chỉ: số E Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 21/02/2024, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/4/2018, bà Đỗ Thị Hồng H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 526830-7662 cho bà H với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng tại thời điểm cấp thẻ là 2,15%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và bà H phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Sau khi được cấp thẻ bà H đã thực hiện các lần giao dịch với tổng số tiền là 1.032.449.431 đồng và các khoản phí phải trả gồm phí trễ hạn 915.345 đồng, lãi trong hạn 17.526.263 đồng, phí vượt hạn mức là 805.710 đồng, phí là 1.697.000 đồng. Tổng số tiền bà H phải thanh toán cho Ngân hàng là 1.053.393.749 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt cho đến nay, bà H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 1.019.651.000 đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/12/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là sang nợ quá hạn (Điều 23 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở yêu cầu bà H thanh toán ngay khoản nợ quá hạn đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện để bà H trả nợ, nhưng bà H vẫn chưa thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng.

Tính đến ngày 23/7/2024, bà H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 60.762.363 đồng trong đó nợ gốc là 33.742.749 đồng, nợ lãi quá hạn là 27.019.614 đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/7/2024 là 60.762.363 đồng trong đó nợ gốc là 33.742.749 đồng, nợ lãi quá hạn là 27.019.614 đồng.

Bà H còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 24/7/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Ngân hàng không biết chồng bà H là ai và đang cư trú tại đâu. Mặt khác Ngân hàng cũng chỉ cấp tín dụng cho cá nhân bà H, không liên quan đến người khác nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân bà H có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.

Bị đơn bà Đỗ Thị Hồng H đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng bà H vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan hệ tranh chấp: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có cơ sở.

- Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chấp hành đúng theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi thụ lý Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chuyển thông báo thụ lý vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đúng thời hạn theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ: Được Tòa án gửi Viện kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà H phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số nợ gốc và lãi tính đến ngày 23/7/2024 là 60.762.363 đồng (trong đó nợ gốc là 33.742.749 đồng, nợ lãi quá hạn là 27.019.614 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đã ký từ ngày 24/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị Hồng H phải trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; bà H có địa chỉ cư trú tại số E Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Việc tham gia tố tụng của các đương sự:

- Nguyên đơn tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đương sự không yêu cầu mời người làm chứng, người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ghi ngày 27/4/2018, bà H ghi địa chỉ cư trú của bà là số E Đường A, khu phố A, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 21/02/2024, nguyên đơn Ngân hàng xác định địa chỉ cư trú của bà H là số E Đường A, khu phố A, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Công an phường L, thành phố T trả lời Phiếu yêu cầu xác minh số 2261/TATPTĐ ngày 22/4/2024, thì bà Đỗ Thị Hồng H có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số E Đường A, khu phố A, phường L, thành phố T. Hiện cả hộ đã bán nhà chuyển cư trú về 27/1/2 Đường H, khu phố B, phường L, thành phố T.

Cũng tại kết quả xác minh này của Công an phường L, thành phố T xác định: Tại địa chỉ 2 Đường H, khu phố B, phường L, thành phố T qua xác minh không có ai tên Đỗ Thị Hồng H, sinh năm 1993 đang ở tại địa chỉ trên.

Do đó, căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trong trường hợp này bà H được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiến hành giải quyết theo thủ tục chung ...

Bị đơn bà H đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng bà H vẫn vắng mặt; Tòa án cũng không nhận được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc bà H vắng mặt có lý do chính đáng do đó căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

- Theo nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ghi ngày 27/4/2018 của bà H thì tại thời điểm nguyên đơn cấp tín dụng cho bị đơn, bị đơn bà H còn độc thân. Phía nguyên đơn cũng không yêu cầu chồng bà H phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn do đó không cần thiết phải triệu tập chồng bà H tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2.2] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về yêu cầu bị đơn bà H trả số tiền nợ gốc 33.742.749 đồng:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho là khách hàng cá nhân) ghi ngày 27/4/2018 của bà Đỗ Thị Hồng H, được Ngân hàng TMCP S1 ngày 23/5/2018, có cơ sở xác định Ngân hàng TMCP S và bà H có giao kết hợp đồng vay tài sản theo đó Ngân hàng cấp tín dụng cho bà H với mức cấp tín dụng là 30.000.000 đồng, lãi suất áp dụng tại thời điểm cấp thẻ là 2,15%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và bà H phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Theo trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa phù hợp với Tóm tắt sao kê cho thấy: Trong quá trình sử dụng thẻ, bà H đã giao dịch với tổng số tiền 1.032.449.431 đồng, và các khoản phí phải trả gồm phí trễ hạn 915.345 đồng, lãi trong hạn 17.526.263 đồng, phí vượt hạn mức là 805.710 đồng, phí là 1.697.000 đồng. Tổng số tiền bà H phải thanh toán cho Ngân hàng là 1.053.393.749 đồng. Bà H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 1.019.651.000 đồng. Từ ngày 22/8/2022 đến nay, bà H đã không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Do đó ngày 22/12/2022, Ngân hàng chuyển toàn bộ khoản nợ 33.742.749 đồng của bà H sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ gốc là 33.742.749 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, tạm tính đến ngày 23/7/2024 là 27.019.614 đồng tiền nợ lãi quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều 22 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S: Buộc bà H phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến hết ngày 23/7/2024 tổng cộng là 60.762.363 đồng trong đó nợ gốc là 33.742.749 đồng, nợ lãi quá hạn là 27.019.614 đồng và thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kể từ ngày 24/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn bà H phải chịu án phí phải chịu án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch với số tiền là: 3.038.118 đồng;

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn trả lại tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S:

    Buộc bà Đỗ Thị Hồng H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến ngày 23/7/2024, tổng cộng là 60.862.363 đồng, trong đó nợ gốc là 33.742.749 đồng, nợ lãi quá hạn là 27.019.614 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.

    Kể từ ngày 24/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, bà Đỗ Thị Hồng H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S thì lãi suất bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP S.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Đỗ Thị Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch là 3.038.118 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.265.896 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025914 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

  4. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;

  • - VKSND TP Thủ Đức;

  • - Chi cục THADS TP Thủ Đức;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3296/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 3296/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S yêu cầu bà H trả tiền nợ thẻ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger