|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 3291/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/8/2023
V/v "Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh P – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1537/2023/TLST– HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4872/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Mộng Đ, sinh năm 1981
Thường trú: 928 Quốc lộ A, Tổ I, Khu phố D, phường L,thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng).
2. Bị đơn: Ông Dương Trường G, sinh năm: 1979
Thường trú: 928 Quốc lộ A, Tổ I, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Cao Thị Mộng Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Dương Trường G tự nguyện chung sống có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau kết hôn vợ chồng sống với gia đình chồng tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng khoảng một, hai năm sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về lối sống, ông thường xuyên nhậu nhẹt, ham vui bạn bè, chửi bới vợ con. Mặc dù bà đã cố gắng khuyên bảo nhưng ông G không thay đổi. Cuộc sống của bà giờ rất ngột ngạt điều này gây ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ và tâm lý của con trai lớn. Bà và ông G đã ly thân, bà cũng đã dọn ra ngoài sống riêng. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: Bà và ông G có hai con chung tên Dương Minh K, sinh ngày 14/01/2006 và Dương Minh T, sinh ngày 03/11/2015. Bà yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung vì các con có nguyện vọng sống cùng bà.
- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, bà Đ có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên các yêu cầu đã trình bày trước đây.
* Bị đơn ông Dương Trường G trình bày ý kiến tại bản tự khai:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Dương Trường G tự nguyện chung sống có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau kết hôn vợ chồng sống tại nhà chồng ở thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng khoảng một, hai năm sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về lối sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Hiện nay bà Đ cũng đã dọn ra ngoài sống riêng, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Ông và bà Đ có hai con chung tên Dương Minh K, sinh ngày 14/01/2006 và Dương Minh T, sinh ngày 03/11/2015. Ông đồng ý giao con cho bà Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung và không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, ông G có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên lời trình bày trong bản tự khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Dương Trường G hiện đang thực tế cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Bà Cao Thị Mộng Đ và ông Dương Trường G có đơn yêu cầu vắng mặt căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Mộng Đ và ông Dương Trường G tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 129, quyển số 1/2005 do tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 23 tháng 12 năm 2005. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông, bà là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu của bà Đ về việc được ly hôn với ông G, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo trình bày của đương sự tại bản tự khai và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do ông G hay la mắng bà Đ và sống vô tâm, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt. Bà Đ đã cho nhiều cơ hội mà ông G không thay đổi. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài và đã vượt quá sức chịu đựng của bà. Bà Đ xác định, hai vợ chồng đã ly thân và bà đã cùng con gái dọn ra ngoài sống. Trong quá trình ly thân, ông bà không ai có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình. Tại công văn số 549/UBND ngày 18/7/2023 của Ủy ban nhân dân phường L xác định trong quá trình sống chung bà Đ và ông G có xảy ra tình trạng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống về nuôi dạy con. Xét thấy, vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo những gì bà Đ trình bày cho thấy quan hệ hôn nhân của ông, bà hiện tại đã lâm vào tình trạng nghiêm trọng. Ông G cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, có căn cứ xác định yêu cầu ly hôn của bà Đ là có cơ sở chấp nhận.
[4].Về con chung: Căn cứ vào giấy khai sinh số 240, Quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 11 tháng 01 năm 2008 và giấy khai sinh số 358, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 11 năm 2015 có cơ sở xác bà Cao Thị Mộng Đ và ông Dương Trường G có hai con chung tên Dương Minh K, sinh ngày 14/01/2006 và Dương Minh T, sinh ngày 03/11/2015.
Xét yêu cầu nuôi con chung của bà Đ: Bà Đ có nguyện vọng được nuôi con, hai cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Bà Đ hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con và từ nhỏ tới giờ các con đều do bà G chăm sóc. Ông G cũng đồng ý giao 02 con cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nên yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung của bà Đ là có cơ sở để chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đ không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
[5].Về tài sản chung: Đương sự tự xác định không có.
[6].Về nợ chung: Đương sự tự xác định không có.
[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Mộng Đ
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Mộng Đ được ly hôn với ông Dương Trường G.
1.2. Về con chung: Bà Cao Thị Mộng Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Dương Minh K, sinh ngày 14/01/2006 và Dương Minh T, sinh ngày 03/11/2015. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Cao Thị Mộng Đ không yêu cầu ông Dương Trường G cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết cha, mẹ hoặc cơ quan tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
1.3. Về tài sản chung: Đương sự tự xác định không có.
1.4. Về nợ chung: Đương sự tự xác định không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Cao Thị Mộng Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0004063 ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân Thành phố Thủ Đức. Bà Cao Thị Mộng Đ đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Trang |
Bản án số 3291/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 3291/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Mông Đang kiện Dương Trường Giang
