|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 329/2024/DS-PT
Ngày: 24/6/2024
“V/v tranh chấp dân sự
về chia thừa kế quyền sử dụng đất,
tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng.
Ông Lê Hồng Nước.
Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Điểu- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 tháng 4 và 17 tháng 5; ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2024/TLPT - DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp dân sự về chia thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 173/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 234/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 291/2024/QĐ-PT ngày 22/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 346/2024/QĐ-PT ngày 17/5/2024; Thông báo số 361/TB-TA ngày 13/6/2024 về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Trần Ngọc D, sinh năm 1955 (có mặt).
- Trần Trung A, sinh năm 1980 (có mặt).
- Nguyễn Thị Hoài A1, sinh năm 1984 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số E, đường B, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị T:
Luật sư Võ Thị Băng G, sinh năm 1957, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Địa chỉ: Số B, đường N, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị P, sinh năm 1950 (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Nguyễn Trung H1, sinh năm 1962 (vắng mặt).
- Võ Thị Hoa Lệ N, sinh năm 1981 (vắng mặt).
- Võ Thị Hoa Cẩm T1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
- Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 (có mặt).
- Nguyễn Thị Sa R, sinh năm 1996 (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Trúc L1, sinh năm 1999 (vắng mặt).
- Đỗ Văn B, sinh năm 1993 (vắng mặt).
- Võ Thị L2, sinh năm 1958 (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
Luật sư Võ Thị Băng G, sinh năm 1957, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Địa chỉ: Số B, đường N, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Thường trú: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số E, đường N, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Đoàn Thanh B1, Chức vụ: Chủ tịch (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Các nguyên đơn bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A, chị Nguyễn Thị Hoài A1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A và chị Nguyễn Thị Hoài A1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do ông Nguyễn Thành T2 (Ông T2 là chồng của bà D và là cha của anh Trung A, chị Hoài A1; ông T2 chết năm 2019) khai phá. Năm 1995, ông T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và từ đó cho đến khi chết, ông T2 chưa làm thủ tục cấp giấy mới. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 gồm:
- Cha ruột tên Nguyễn Thành C (chết năm 1967);
- Mẹ ruột tên Trần Thị T3 (chết năm 1994);
- Vợ tên Trần Ngọc D;
- Con ruột tên Trần Trung A và Nguyễn Thị Hoài A1.
Ngoài ra, ông T2 không có cha, mẹ nuôi, con ruột hoặc con nuôi gì khác.
Sau đó, do thấy hoàn cảnh của em ruột mình là bà Nguyễn Thị T khó khăn, nên ông T2 cho bà T cùng canh tác chung. Sau khi ông T2 chết, thì bà T và bà P quản lý, sử dụng 03 phần đất tranh chấp trên cho đến nay.
Năm 2020, bà D, anh A1, chị A1 làm thủ tục thừa kế tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T thì phát hiện ông T2 có ăn ở với người khác bên ngoài và có 02 người con tên N và T1. Hai người này ngăn cản không cho làm thủ tục thừa kế. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười thẩm định. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 thì bà D đang giữ, không có thế chấp cho cá nhân hay tổ chức nào.
Nay bà D, anh Trung A và chị Hoài A1 yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị P trả lại:
- + Phần diện tích đất 2.440,8m² thuộc thửa số 325;
- + Phần diện tích đất 18.062,7m² thuộc thửa số 757;
- + Phần diện tích đất 7.400,8m² thuộc thửa số 758.
Các thửa đất trên cùng tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với các phần đất trên như sau:
- - Thửa số 325, tờ bản đồ số 06, diện tích 2.440,8m² chia làm 03 phần: Bà D nhận 1.627,2m², anh Trung A và chị Hoài A1 mỗi người nhận 406,8m².
- - Thửa số 757, tờ bản đồ số 06, diện tích 18.062,7m², chia làm 03 phần: Bà D nhận 12.041,8m², anh Trung A và chị Hoài A1 mỗi người nhận 3.010,45m².
- - Thửa số 758, tờ bản đồ số 06, diện tích 7.400,8m², chia làm 03 phần: Bà D nhận 4.933,8m², anh Trung A và chị Hoài A1 mỗi người nhận 1.233,5m².
Ngoài ra, bà D, anh Trung A và chị Hoài A1 không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà không thống nhất với lời trình bày của các nguyên đơn.
Nguồn gốc phần đất trên là do mẹ của bà là cụ Trần Thị T3 khai phá vào năm 1972. Đến năm 1985, thì Nông trường Láng Biển lấy phần đất này. Đến khoảng năm 1989, 1990 thì Nông trường trả lại đất cho dân, nên cụ T3 nhận lại phần đất này canh tác. Sau đó, cụ T3 có cho (bằng miệng) bà và ông T2 ½ số đất trên. Hiện trạng đất khi đó là đất lâm, bà đã cải tạo mới được như ngày hôm nay.
Đến năm 1995, do mẹ đã chết nên ông Nguyễn Trung H1 đi làm thủ tục kê khai để cho người anh trai cả là ông Nguyễn Thành T2 đứng tên toàn bộ phần đất này. Từ khi được mẹ cho đất, thì bà T sử dụng liên tục từ đó cho đến nay. Đối với ông T2 thì có vợ về S sinh sống, đến năm 1996 thì về sống chung với gia đình bà cho đến khi ông T2 chết. Đối với hai người con của bà T là Nguyễn Thị Sa R và Nguyễn Thị Trúc L1 do là con nên sống chung nhà với bà T chứ thực tế không có công sức đóng góp vào việc cải tạo phần đất trên. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười thẩm định.
Nay đối với yêu cầu của các nguyên đơn thì bà T không đồng ý và bà T có yêu cầu phản tố như sau:
- Công nhận cho bà T toàn bộ phần đất mà bà đang sử dụng tại thửa số 325 theo diện tích đo đạc thực tế trong Sơ đồ đo đạc của Tòa án.
- Công nhận cho bà T ½ phần đất mà bà đang sử dụng tại thửa số 757 và 758 theo diện tích đo đạc thực tế trong Sơ đồ đo đạc của Tòa án.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị T không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trình bày:
Bà P không thống nhất với lời trình bày của các nguyên đơn.
Nguồn gốc phần đất mà bà đang quản lý, sử dụng là trước đây vào khoảng năm 1989, 1990 bà nhận chuyển nhượng từ ông Sáu K (đã chết), do lâu quá bà không nhớ giá bao nhiêu, nhưng bà đã giao đủ lúa cho ông K nên ông K đã giao phần đất này cho bà sử dụng từ đó cho đến nay. Khi mua đất thì đất chưa được cấp giấy, đến năm 1995 do bà không biết chữ nên nhờ ông Nguyễn Trung H1 đi làm thủ tục kê khai thay cho bà và ông H1 để cho ông Nguyễn Thành T2 đứng tên luôn phần đất này.
Đối với con của bà P là anh Đỗ Văn B do là con nên sống chung nhà, chứ thực tế không có công sức đóng góp vào việc cải tạo phần đất trên. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười thẩm định.
Nay đối với yêu cầu của các nguyên đơn thì bà P không đồng ý, bà có yêu cầu độc lập như sau:
- Yêu cầu hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thành T2 được cấp vào ngày 12/5/1995.
- Công nhận cho bà toàn bộ phần đất mà bà đang sử dụng tại thửa số 325 và 757 theo diện tích đo đạc thực tế trong Sơ đồ đo đạc của Tòa án.
Ngoài ra, bà P không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bé H trình bày:
Chị là con ruột của bà Nguyễn Thị P, do cha chị chết, mẹ thì đi thêm bước nữa (có chồng khác) nên từ nhỏ chị đã sống với bà ngoại là cụ Trần Thị T3.
Đến năm 1990, thì cụ T3, ông T2 và ông H1 có cho (Bằng miệng) chị được 06 công tầm nhỏ trên phần đất đang tranh chấp trong vụ án này, phần đất chị được cho phía sau nhà bà T hiện nay, có 01 cái chướng mà từ vị trí chướng này trở ra phía sau là phần đất chị được cho. Chị và bà T về đất đó cất nhà để phá lâm phần
này ra mới canh tác được. Đến năm 1998 thì chị có chồng nên chuyển về huyện C sinh sống cho đến nay. Khi đi thì chị để lại phần đất này cho ông T2 canh tác. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười thẩm định.
Nay chị B2 Hai yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà D, anh Trung A và chị Hoài A1 chuyển quyền sử dụng đất diện tích là 3.000m², thuộc thửa số 758, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp mà cụ T3, ông T2 và ông H1 đã cho chị.
Ngoài ra, chị Bé H không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung H1 trình bày:
Ông là con ruột của cụ C và cụ T3, còn ông T2 là anh ruột của ông. Nguồn gốc phần đất trên là do hộ của ông khai phá trước năm 1975, mà người trực tiếp khai phá là cụ T3 và ông. Khi đó, ông còn khai phá thêm 01 phần đất khác gần đó. Đến năm 1985, thì Nông trường Láng Biển lấy phần đất này. Sau đó (không nhớ năm) thì Nông trường trả lại đất cho các hộ dân đã khai phá, lúc đó mẹ ông còn sống nên ông để mẹ ông đứng ra nhận lại phần đất này nhưng ông vẫn là người canh tác trực tiếp. Thời điểm này, mẹ của ông sống với người em thứ 7 gần nhà của ông chứ không sống trên phần đất này. Thời điểm đó đất lâm rất khó canh tác, nhưng thấy đứa em út tên Nguyễn Thị T không có đất canh tác nên ông với mẹ mới cho T và đứa cháu tên H về đó cất nhà cải tạo đất để canh tác. Khi đó, mẹ và ông cho miệng cho bà T phần đất nền nhà để ở và 10 công tầm nhỏ để canh tác, còn cháu tên H thì cho 06 công tầm nhỏ để canh tác, phần còn lại tính cho ông T2.
Đến năm 1995, ông H1 là người làm hồ sơ để đi kê khai phần đất trên và phần đất gần đó của ông. Do lúc đó ông T2 là anh trai lớn trong nhà nên anh, chị, em quyết định để ông T2 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông làm thủ tục trên, thì ông T2 đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh không về nên ông H1 đã ký tên thay cho ông T2 trong Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất ngày 17/01/1995. Đồng thời, đối với phần đất của bà P hiện nay đang sử dụng thì do bà P mua lại của ông K, lúc đó do bà P không có lúa để trả cho ông K nên ông H1 mới cho mượn lúa để bà P đong trả cho ông K. Sau đó, bà P đã trả lại lúa đầy đủ cho ông. Do bà P không biết chữ nên khi ông đi kê khai thì để luôn phần đất của bà P cho ông T2 đứng tên thay luôn. Đối với toàn bộ lời trình bày trên thì ông không có chứng cứ gì chứng minh. Đối với vụ án này, ông H1 không có yêu cầu gì.
Ngoài ra, ông H1 không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông là chồng của bà Nguyễn Thị T, ông thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của bà T. Đối với hai người con tên R và L1 thì do là con nên sống chung nhà, chứ thực tế không có công sức đóng góp vào việc cải tạo phần đất trên. Đối với vụ án này, bản thân ông L không có yêu cầu gì và giao toàn quyền cho bà T quyết định.
Ngoài ra, ông L không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn B trình bày:
Anh là con của bà Nguyễn Thị P, anh thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của bà P. Do là con nên anh sống chung nhà với mẹ chứ thực tế anh không có công sức đóng góp vào việc cải tạo phần đất trên. Đối với vụ án này bản thân anh không có yêu cầu gì và giao toàn quyền cho bà P quyết định. Ngoài ra, anh B không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Theo ý kiến tại biên bản hòa giải ở Toà án cấp sơ thẩm, chị Võ Thị Hoa Lệ N và chị Võ Thị Hoa Cẩm T1 trình bày:
Các chị là con ruột của ông T2, mẹ của các chị là bà Võ Thị L2, sinh năm 1958, địa chỉ ở Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Ông T2 và bà L2 chung sống với nhau nhưng chưa đăng ký kết hôn.
Đối với phần đất của bà P thì theo các chị là của bà P mua của người khác nên nay các chị đồng ý trả lại cho bà P. Đối với phần đất còn lại do bà T quản lý thì các chị yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật nhưng nay các chị chưa đưa ra được yêu cầu cụ thể của mình, các chị xin Tòa án cấp sơ thẩm thời hạn 15 ngày (Kể từ ngày 31/5/2022) để trình bày rõ yêu cầu của mình bằng văn bản, nếu hết thời gian trên mà các chị không làm văn bản thì xem như các chị không có yêu cầu gì và sau đó thì các chị cũng không gửi văn bản đến Toà án.
Ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện T tại văn bản xin vắng mặt ở phiên tòa xét xử sơ thẩm:
Ủy ban sẽ thực hiện kết quả giải quyết vụ án của Tòa án khi có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị Sa R, chị Nguyễn Thị Trúc L1 và bà Võ Thị L2 mặc dù đã được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm và đến nay cũng không có văn bản ý kiến gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 173/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã tuyên xử:
- Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A và chị Nguyễn Thị Hoài A1.
- - Buộc bà Nguyễn Thị T phải di dời hết các cây trồng và kiến trúc có trên đất để trả lại cho bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A và chị Nguyễn Thị Hoài A1 các phần đất diện tích đo đạc thực tế là 650,8m², trong phạm vi các mốc M2, M2᾽, M9', M9 và M1 trở về mốc M2, tại 01 phần thửa số 325, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 7.415,5m², trong phạm vi các mốc M10, M10', M25', M25 và M26 trở về mốc M10, tại 01 phần thửa số 757, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 3.763,2m², trong phạm vi các mốc M25, M25᾽, M22', M22, M23 và M24 trở về mốc M25, tại 01 phần thửa số 758, tờ bản đồ số 06; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, đất tọa lạc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A và chị Nguyễn Thị Hoài A1 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả phần đất diện tích đo đạc thực tế là 822,5m², trong phạm vi các mốc M2, M3, M8, M7 và M9' trở về mốc M2', tại 01 phần thửa số 325, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 7.540,7m², trong phạm vi các mốc M10', M11, M15, M14, M17, M18 và M25᾽ trở về mốc M10', tại 01 phần thửa số 757, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 3.637,6m², trong phạm vi các mốc M25᾽, M18, M19, M20, M21 và M22' trở về mốc M25', tại 01 phần thửa số 758, tờ bản đồ số 06; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, đất tọa lạc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A và chị Nguyễn Thị Hoài A1 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả các phần đất diện tích đo đạc thực tế là 967,5m², trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6, M7 và M8 trở về mốc M3, tại 01 phần thửa số 325, tờ bản đồ số 06 và diện tích đo đạc thực tế là 3.106,5m², trong phạm vi các mốc M11, M12, M13, M14 và M15 trở về mốc M11, tại 01 phần thửa số 757, tờ bản đồ số 06; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, đất tọa lạc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Phần di sản thừa kế bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A và chị Nguyễn Thị Hoài A1 mỗi người được hưởng, cụ thể:
- + Bà Trần Ngọc D được hưởng tổng diện tích đo đạc thực tế là 650,8m², trong phạm vi các mốc M2, M2᾽, M9, M9 và M1 trở về mốc M2, tại 01 phần thửa số 325, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 7.415,5m², trong phạm vi các mốc M10, M10, M25᾽, M25 và M26 trở về mốc M10, tại 01 phần thửa số 757, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 3.763,2m², trong phạm vi các mốc M25, M25', M22', M22, M23 và M24 trở về mốc M25, tại 01 phần thửa số 758, tờ bản đồ số 06; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, đất tọa lạc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- + Bà Trần Ngọc D phải trả giá trị lại cho anh Trần Trung A số tiền là 162.655.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- + Bà Trần Ngọc D phải trả giá trị lại cho chị Nguyễn Thị Hoài A1 số tiền là 162.655.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- + Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
- Chấp nhận 01 phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị T.
- - Bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 822,5m², trong phạm vi các mốc M2, M3, M8, M7 và M9' trở về mốc M2', tại 01 phần thửa số 325, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 7.540,7m², trong phạm vi các mốc M10', M11, M15, M14, M17 M18 và M25᾽ trở về mốc M10', tại 01 phần thửa số 757, tờ bản đồ số 06; diện tích đo đạc thực tế là 3.637,6m², trong phạm vi các mốc M25', M18, M19, M20, M21 và M22᾽ trở về mốc M25', tại 01 phần thửa số 758, tờ bản đồ số 06; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, đất tọa lạc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu công nhận cho bà Nguyễn Thị T phần đất diện tích đo đạc thực tế là 650,8m², trong phạm vi các mốc M2, M2', M9', M9 và M1 trở về mốc M2, tại 01 phần thửa số 325, tờ bản
đồ số 06; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, đất tọa lạc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận 01 phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị P.
- - Bà Nguyễn Thị P được quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 967,5m², trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6, M7 và M8 trở về mốc M3, tại 01 phần thửa số 325, tờ bản đồ số 06 và diện tích đo đạc thực tế là 3.106,5m², trong phạm vi các mốc M11, M12, M13, M14 và M15 trở về mốc M11, tại 01 phần thửa số 757, tờ bản đồ số 06; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, đất tọa lạc ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Bé H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A và chị Nguyễn Thị Hoài A1 chuyển quyền sử dụng đất diện tích 3.000m², thuộc thửa số 758, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp mà cụ T3, ông T2 và ông H1 đã cho chị H.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thành T2 vào ngày 12/5/1995, để cấp quyền sử dụng đất lại cho bà D, bà T và bà P đối với các phần đất trên.
- Bà D, bà T và bà P được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2022 và phụ lục kèm theo ngày 21/9/2023 của Công ty TNHH D1.
- Về cây trồng và kiến trúc có trên đất:
- - Bà T phải có nghĩa vụ di dời các cây trồng và kiến trúc nằm trên phần đất mà bà D được hưởng thừa kế nêu trên (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2022 và phụ lục kèm theo ngày 21/9/2023 của Công ty TNHH D1) để trả phần đất này lại cho bà D.
- - Bà T được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ cây trồng và kiến trúc nằm trên phần đất mà bà T được công nhận nêu trên (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2022 và phụ lục kèm theo ngày 21/9/2023 của Công ty TNHH D1).
- - Bà P được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ cây trồng và kiến trúc nằm trên phần đất mà bà P được công nhận nêu trên (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2022 và phụ lục kèm theo ngày 21/9/2023 của Công ty TNHH D1).
- Về chi phí tố tụng:
- - Bà D, anh A1 và chị A1 phải liên đới chịu 10.722.000 đồng (Mười triệu, bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng) và bà D, anh A1, chị A1 đã nộp xong.
- - Bà T phải chịu 7.148.000 đồng (Bảy triệu, một trăm bốn mươi tám nghìn đồng). Do số tiền này bà D, anh A1, chị A1 đã tạm ứng trước nên bà T phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền này để trả lại bà D, anh A1, chị A1.
- Về án phí:
- * Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà D và bà P được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Anh A1 phải chịu 8.133.000 đồng (Tám triệu, một trăm ba mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 5.095.000 đồng (Năm triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011299, ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Anh A1 phải nộp tiếp 3.038.000 đồng (Ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Chị A1 phải chịu 8.133.000 đồng (Tám triệu, một trăm ba mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 5.095.000 đồng (Năm triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011298, ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Chị A1 phải nộp tiếp 3.038.000 đồng (Ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà T phải chịu 2.685.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 22.295.000 đồng (Hai mươi hai triệu, hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014897, ngày 08/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Bà T được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 19.610.000 đồng (Mười chín triệu, sáu trăm mười nghìn đồng).
- - Chị H phải chịu 11.250.000 đồng (Mười một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002447, ngày 19/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Chị H phải nộp tiếp 6.750.000 đồng (Sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- * Án phí dân sự phúc thẩm:
- - Bà Trần Ngọc D, anh Trần Trung A, chị Nguyễn Thị Hoài A1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh Trung A đã nộp 300.000 đồng ngày 03/10/2023 theo Biên lai thu số 0000795, chị Hoài A1 đã nộp 300.000 đồng ngày 03/10/2023 theo Biên lai số 0000796 cùng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười được khấu trừ vào án phí phúc thẩm mà anh Trung A, chị Hoài A1 phải nộp (Anh T, chị Hoài A1 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.). Bà D được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) mà người phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 329/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về chia thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt
- Số bản án: 329/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về chia thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc D
