|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 329/2025/HS-ST Ngày: 16 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAΙ
***
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Công Danh;
2. Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chí Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
***
Hôm nay, ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 03, tầng trệt - Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 318/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 336/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Vũ Thanh S, sinh ngày 24/10/1996 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Số CCCD/Hộ chiếu: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/09/2021; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Số 23/2/40, khu phố D, phường T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Con ông Lê Ngọc D, sinh năm 1974 (còn sống) và bà Vũ Thị H, sinh năm 1975 (còn sống); Gia đình bị cáo có 02 anh em ruột và bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang ngày 08/7/2025, bị tạm giữ từ ngày 09/07/2025 và đến ngày 17/07/2025 chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 3438/LTG-CSĐT ngày 17/7/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ.
(Bị cáo S có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thanh S là người sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 22 giờ ngày 08-7-2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên S sử dụng ứng dụng Zalo với tên tài khoản “Sang Em” gọi cho tài khoản “Bé H1” (Không rõ họ tên, địa chỉ) để mua ma tuý sử dụng. Sau đó, S điều khiển xe môtô biển số 64K7-1344, nhãn hiệu Dayang đến khu vực chợ T thuộc khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai gặp 01 người phụ nữ (Không rõ họ tên, địa chỉ) để mua 02 gói ma tuý đá với giá 300.000 đồng rồi S cất 02 gói ma tuý trên vào túi quần jean bên trái phía trước đang mặc và tiếp tục điều khiển xe môtô trên đi đến cơ sở massage V thuộc phường T, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đi đến trước khách sạn H3 tại số B đường P, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai thì S bị tổ tuần tra Công an phường T, Công an tỉnh Đ phát hiện, nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện S đang cất giấu 02 gói nylon trong suốt chứa tinh thể màu trắng trong túi quần jean bên trái phía trước S đang mặc, S thừa nhận đây là ma túy đá, mua về để sử dụng cho bản thân nên Công an phường T đã tiến hành bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật thu giữ gồm (Bút lục số 01-02, 75A):
- - 02 gói nilong có chứa chất tinh thể màu trắng (S khai nhận là ma tuý đá);
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A5, số I (khe 1): 354021083991693, số Imel (khe B): 354021083991691 thuộc sở hữu của S, dùng làm phương tiện phạm tội;
- - 01 xe môtô nhãn hiệu Dayang, biển số 64K7-1344 thuộc sở hữu của bà Vũ Thị H (là mẹ ruột của S), S sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, bà H không biết S sử dụng chiếc xe môtô trên vào việc phạm tội.
Tại Bản kết luận giám định số 1084/KL-KTHS ngày 14-7-2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- - “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5154 gam, loại Methamphetamine;
- - Kèm theo kết luận giám định: Không;
- - H2 lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,4319 gam;
- - Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong ký hiệu số: 1084/KL-KTHS” (Bút lục số 30).
Tại Cáo trạng số: 42/CT/VKSKV1 ngày 11/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Vũ Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Vũ Thanh S mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù và tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thu giữ sau giám định được niêm phong kí hiệu số 1084/KL-KTHS và tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A5, số I (khe 1): 354021083991693, số Imel (khe B): 354021083991691 thuộc sở hữu của bị cáo S dùng làm phương tiện phạm tội.
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Thanh S thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến, tranh luận đối với phần trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai quy định tại các Điều 280, 281 và khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thanh S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
[2.1] Những chứng cứ xác định hành vi bị truy tố có tội và tội danh:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo Vũ Thanh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vũ Thanh S là người sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 08-7-2025, tại trước khách sạn H3 thuộc số B đường P, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai, Vũ Thanh S đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 0,5154 gam, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ tuần tra Công an phường T, Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai/bản tường trình của bị cáo, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi do bị cáo Vũ Thanh S thực hiện trong vụ án đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 (Viết tắt là Bộ luật hình sự) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Thanh S không có.
[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Vũ Thanh S đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và các Điều 2 và Điều 3 của Nghị quyết số: 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại của Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo S thể hiện tính nhân đạo pháp luật nhà nước ta.
[2.4] Bản thân bị cáo Vũ Thanh S là người đã trưởng thành, nhận thức và biết được ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và xã hội, được nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển, tổ chức sử dụng ma túy ...vv đều bị nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Nhưng vì mục đích vụ lợi, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là lỗi cố ý, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương, là tác nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, tội phạm khác. Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử quyết định cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về xử lý vật chứng và tài sản, vật liên quan đến tội phạm:
- - Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong 01 túi giấy niêm phong mẫu vật sau giám định số: 1084/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ là lượng ma tuý còn lại sau giám định nên tịch thu, tiêu huỷ;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A5, số I (khe 1): 354021083991693, số Imel (khe B): 354021083991691 thuộc sở hữu của bị cáo Vũ Thanh S, dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước;
- - 01 môtô nhãn hiệu Dayang, biển số 64K7-1344 thuộc sở hữu của bà Vũ Thị H (là mẹ ruột của S), S sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, bà H không biết S sử dụng chiếc xe môtô trên vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe cho bà H là phù hợp.
[4] Các vấn đề khác:
Quá trình điều tra thể hiện bị cáo Vũ Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 07-7-2025, tuy nhiên qua xác minh: Sang không thuộc trường hợp đang cai nghiện ma tuý hoặc điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế, không đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý theo quy định Luật Phòng, chống ma tuý nên không có căn cứ xử lý bị cáo S về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Ngày 03-11-2025, Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 629/QĐ-XPVPHC đối với bị cáo S số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp;
- Đối với đối tượng “Bé H1” đã bán ma tuý cho bị cáo S, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, họ tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có kết quả, xử lý sau.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vũ Thanh S phải nộp 200.000 đồng theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày, lời nói sau cùng của bị cáo Vũ Thanh S tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ các Điều 2, 3 và Điều 4 của Nghị quyết số: 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại của Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ các Điều 106, 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 298, 299, 325, 326, 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015; Căn cứ các Điều 11, 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Thanh S 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/07/2025.
- Về xử lý vật chứng và tài sản, vật liên quan đến tội phạm:
- - Tịch thu và tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma tuý Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ thu giữ sau giám định được hoàn lại trong 01 túi giấy niêm phong mẫu vật sau giám định số: 1084/KL-KTHS ngày 15/07/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ;
- - Tich thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A5, số I (khe 1): 354021083991693, số Imel (khe B): 354021083991691.
(Các vật chứng, tài sản nêu trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đồng Nai)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Vũ Thanh S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Thanh S được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Đạt |
Bản án số 329/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 329/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh Sang phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. 2. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thanh Sang 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/07/2025.
