Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 329/2024/HSST

Ngày: 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Chon.
  2. Ông Lê Văn Rồi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:

Bà Lê Thị Trúc Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 287/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trương Công T (tên gọi khác: C), sinh năm 1991, tại tỉnh Long An, thường trú tại: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; nơi ở: Nhà T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trương Công T1 và bà Nguyễn Thanh T2; bị cáo chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 11/6/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 28/4/2022 chấp hành xong hình phạt tù; nhân thân: Ngày 29/5/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đến ngày 22/8/2014 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/05/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Gia Â, sinh năm 1996, tại tỉnh Tiền Giang, thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở: Không có nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Gia H và bà Nguyễn Thị Thanh P; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/12/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, ngày 03/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/6/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969, địa chỉ: Số E, đường T, Tổ E, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quang T3, sinh năm 1993, địa chỉ: Tiệm C, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 268/CT-VKS.CC ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Trương Công T và Trần Gia  về hành vi phạm tội như sau:

Trương Công T quen biết với Trần Gia  khi cùng chấp hành án tại Trại giam T4, tỉnh Long An vào năm 2017. Sau khi trở về sinh sống tại địa phương thì T vẫn giữ liên lạc với Â.

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/01/2024, Trần Gia  điện thoại nhờ Trương Công T chở  ra Bến xe C để  bắt xe đi về quê. T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đen đỏ biển số 70S1-9893 chở  đi từ Thị xã T, tỉnh Tây Ninh theo Quốc lộ B về hướng xã P, huyện C. Khi đi đến ngã ba đường V - Quốc lộ B, T rẽ trái vào đường V thì  thấy bà Nguyễn Thị L mang theo 01 bóp da màu nâu, kích thước khoảng 20cm x 30cm đang đi bộ ngược chiều đi đám cưới.  nói với T: “Bạn giúp tôi làm cái bóp này cho tôi có chút tiền xài”. T hiểu là  muốn chiếm đoạt bóp da của bà L và T đồng ý. T điều khiển xe mô tô trên quay lại áp sát bên trái bà L đang đi bộ tại trước nhà số I, đường V, ấp V, xã P, huyện C,  dùng tay phải nhanh chóng giật lấy bóp da của bà L đang cầm bên tay trái rồi ra tín hiệu cho T bằng cách vỗ vào vai T, T biết  đã giật được nên T nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. T chở  chạy thẳng đường V đến Quốc lộ B thì rẽ phải chạy về hướng Thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Trên đường đi,  kiểm tra trong bóp có khoảng 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, một số tiền của nước khác gồm 01 tờ tiền Hàn Quốc mệnh giá 50.000 Won và tiền Đô la Mỹ mệnh giá 1 USD và 2 USD (không rõ số lượng cụ thể bao nhiêu), 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 64GB màu đỏ và các giấy tờ tuỳ thân mang tên Nguyễn Thị Lệ . Sau đó, T hỏi  lấy xong chưa,  bảo xong rồi nên T vứt bóp da cùng giấy tờ tuỳ thân trên tại kênh nhỏ trên Quốc lộ B gần Cổng chào T. Sau đó T và  đi trên đường gặp một người đi đường (không biết tên, địa chỉ) hỏi và nhờ đổi số tiền ngoại tệ trong bóp mà T và  vừa chiếm đoạt được với số tiền khoảng 800.000 (tám trăm nghìn) đồng. Tổng cộng số tiền có trong bóp và số tiền ngoại tệ đổi được khoảng 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn) đồng. T và  chia đôi mỗi người khoảng 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng. 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 64 GB màu đỏ thì  lấy để sử dụng. Sau khi chia tài sản chiếm đoạt được thì T chở  về nhà trọ thuộc phường A, Thị xã T, tỉnh Tây Ninh còn T về nhà.

Ngày 15/01/2024, khi biết Cơ quan Công an đang truy tìm, T điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu xanh biển số 70K4-7945 chạy theo Quốc lộ B hướng về xã P, huyện C rồi bỏ xe gần trạm xe buýt. Sau đó, T gọi cho bạn gái T là Lê Thị H1 đến lấy xe về, T đi xe buýt đến Bến xe C. T gọi cho  nói việc T và  đã bị cơ quan Công an phát hiện về hành vi cướp giật tài sản. T hẹn  tại Bến xe C rồi cả hai tìm cách bỏ trốn. Sau đó, T đến Thị Trấn T, tỉnh Long An đi làm thuê và ở chung với những người làm thuê. Đến ngày 25/5/2024, Công an xã B, huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra phát hiện T đang là đối tượng truy tìm của Công an huyện C liên quan đến vụ án “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 13/01/2024 tại ấp V, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thông báo với Công an huyện C mời T về trụ sở cơ quan Công an để làm rõ vụ việc.

Còn  đi nhiều nơi làm thuê và ngủ ở những nơi đất trống, nhà hoang cho đến ngày 06/6/2024,  đang trốn ở thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An thì bị Công an huyện C mời về làm rõ vụ việc.

Trương Công T và Trần Gia  khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

  • - Kết luận giám định số 3434/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Đối với xe mô tô biển số 70S1-9893, số khung: RICSSC640-AY209255 (không bị đục lại số), số máy: 5C64-209257 (không bị đục lại số).
  • - Kết luận giám định số 8276/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định.
  • - Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 bóp da màu nâu, kích thước 20cm x 30cm trị giá 50.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 64GB trị giá 1.000.000 đồng. Tổng tài sản định giá là 1.050.000 đồng.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử: Trương Công T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Trần Gia  về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh luận tội:

Giữ nguyên quan điểm theo Cáo trạng số 268/CT-VKS.CC ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Lời khai của hai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào khoảng 10 giờ ngày 13/01/2024, tại trước nhà số I, đường V, ấp V, xã P, huyện C, Trương Công T điều khiển xe mô tô áp sát bà Nguyễn Thị L, Trần Gia  ngồi phía sau xe dùng tay phải cướp giật tài sản của bà L gồm 01 túi xách màu nâu trị giá 50.000 đồng có khoảng 400.000 đồng, một số tiền ngoại tệ (tiền đô la M và tiền Hàn Quốc) trị giá 800.000 đồng, các giấy tờ tùy thân và 01 điện thoại di động hiệu OPPO trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà T cùng  chiếm đoạt của bà L là 2.250.000 đồng.

Hai bị cáo T và  điều khiển xe máy cướp giật bóp của bà L đang đi bộ thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm. Bị cáo T đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” là tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trương Công T đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Trần Gia  đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Trương Công T không có tiền sự. Bị cáo có 01 tiền án là ngày 11/6/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 28/4/2022 chấp hành xong hình phạt tù nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân, ngày 29/5/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đến ngày 22/8/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đối với bị cáo Trần Gia Â: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Về nhân thân: Ngày 27/12/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, ngày 03/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố hai bị cáo Trương Công T và Trần Gia  phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  • - Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Công T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng.
  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Gia  từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng.

Vật chứng:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 64GB màu đỏ, là tài sản của bà Nguyễn Thị L bị Trần Gia  chiếm đoạt vào ngày 13/01/2024 và sử dụng cho đến khi bị bắt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà L là phù hợp.
  • - 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen đỏ biển số 70S1-9893, số máy 5C64209257, số khung RLCS5C640AY209255 do ông Huỳnh Ngọc N (Sinh năm 1974, nơi thường trú: Tổ 8, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh) là người đứng tên giấy Đăng ký xe. Ông N cho biết xe mô tô trên ông đã bán vào năm 2017 cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng cùng giấy đăng ký xe nhưng không làm hợp đồng mua bán xe. Bị cáo T khai xe mô tô trên là của bị cáo mua từ một người bạn tên V (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) với giá 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng để sử dụng nhưng không làm thủ tục sang tên. Sau khi chở Â đi cướp giật thì vào ngày 14/01/2024, T đem xe mô tô trên cầm tại tiệm C1 thuộc phường A, Thị xã T, tỉnh Tây Ninh cùng Căn cước công dân và giấy đăng ký xe mô tô trên với số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng và tiêu xài hết. Ông Trần Quang T3 không biết đó là phương tiện T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và đã tự nguyện giao nộp lại xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Đề nghị Hội đồng xét xử giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi thông báo tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị L không có yêu cầu gì nên không xét. Ông Trần Quang T3 yêu cầu bị cáo Trương Công T bồi thường số tiền 4.000.000 đồng là số tiền T cầm xe mô tô hiệu Sirius màu đen đỏ biển số 70S1-9893. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường cho ông T3, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T bồi thường cho ông T3 số tiền 4.000.000 đồng.

Đối với số tiền 1.200.000 đồng hai bị cáo chiếm đoạt của bà L là tiền thu lợi bất chính. Tại phiên tòa, hai bị cáo khai chia mỗi người 600.000 đồng tiêu xài, hai bị cáo đồng ý nộp lại để sung vào quỹ nhà nước, đề nghị Hội đồng xét xử buộc hai bị cáo mỗi bị cáo nộp lại 600.000 đồng để sung vào quỹ nhà nước.

Hai bị cáo Trương Công T và Trần Gia  không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, hai bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ để hai bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, lời khai của hai bị cáo Trương Công T và Trần Gia  phù hợp với nhau và phù hợp các chứng cứ có tại hồ sơ. Hai bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi điều khiển xe máy giật bóp của bà Nguyễn Thị L khi bà L đang đi bộ rồi nhanh chóng tẩu thoát, tổng giá trị tài sản hai bị cáo T và  chiếm đoạt của bà L là 2.250.000 đồng là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm. Bị cáo T đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” là tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trương Công T đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Trần Gia  đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hai bị cáo nhận thức được việc cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài hai bị cáo vẫn bất chấp. Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục hai bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[2.1] Trong vụ án này, bị cáo  là người chủ mưu, rủ rê bị cáo T cướp giật tài sản đồng thời bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi giật bóp của bà L. Bị cáo T là người điều khiển xe máy áp sát bà L để bị cáo  giật bóp của bà L. Hành vi phạm tội của hai bị cáo là đồng phạm giản đơn nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng xem xét khi áp dụng hình phạt đối với hai bị cáo.

[2.2] Bị cáo Trương Công T không có tiền sự. Bị cáo có 01 tiền án là ngày 11/6/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 28/4/2022 chấp hành xong hình phạt tù nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân, ngày 29/5/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đến ngày 22/8/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[2.3] Bị cáo Trần Gia  không có tiền án, tiền sự. Về nhân thân, ngày 27/12/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, ngày 03/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ một phần hình phạt đối với hai bị cáo. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo  có tính chất và mức độ nguy hiểm cao hơn bị cáo T nhưng vì bị cáo T có hai tình tiết định khung tăng nặng, bị cáo đã bị xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích lại phạm tội “Cướp giật tài sản” nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với bị cáo T bằng bị cáo Â.

[3] Về dân sự: Bà Nguyễn Thị L không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét. Ông Trần Quang T3 yêu cầu bị cáo Trương Công T bồi thường số tiền 4.000.000 đồng là số tiền bị cáo cầm xe mô tô hiệu Sirius màu đen đỏ biển số 70S1-9893. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường cho ông T3, Hội đồng xét xử buộc bị cáo T bồi thường cho ông T3 số tiền 4.000.000 đồng.

[4] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Hội đồng xét xử quyết định buộc hai bị cáo T và Â mỗi bị cáo nộp lại số tiền 600.000 đồng, là tiền hai bị cáo thu lợi từ việc cướp giật tài sản của bà L sung vào ngân sách Nhà nước.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 64GB màu đỏ, là tài sản của bà Nguyễn Thị L bị hai bị cáo T và  chiếm đoạt vào ngày 13/01/2024, bị cáo  sử dụng cho đến khi bị bắt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà L là phù hợp.
  • - 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen đỏ biển số 70S1-9893, số máy 5C64209257, số khung RLCS5C640AY209255 do ông Huỳnh Ngọc N đứng tên giấy Đăng ký xe. Ông N đã bán vào năm 2017 cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) nhưng không làm hợp đồng mua bán xe. Bị cáo T mua với giá 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng để sử dụng nhưng không làm thủ tục sang tên. Sau khi bị cáo T chở Â đi cướp giật thì vào ngày 14/01/2024, bị cáo T đem xe cầm tại tiệm C1 với số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng và tiêu xài hết. Ông Trần Quang T3 không biết đó là phương tiện T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và đã tự nguyện giao nộp lại xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.

Việc ông N bán xe nhưng chưa sang tên và bị cáo mua xe cũng chưa sang tên, nếu sau này có ai tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe này thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

Trường hợp sau này có ai tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiến xe nêu trên thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự.

[6] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “…..Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án...”, Hội đồng xét xử buộc hai bị cáo T và Â phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và buộc bị cáo T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên như nêu trên là phù hợp.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố hai bị cáo Trương Công T và Trần Gia  phạm tội “Cướp giật tài sản".

  • - Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Công T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.
  • - Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Gia  04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/6/2024.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Trương Công T có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Quang T3 số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng.

Kể từ ngày ông T3 có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo T chưa thi hành trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho ông T3 tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  • - Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc hai bị cáo Trương Công T và Trần Gia  mỗi bị cáo nộp lại số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen đỏ biển số 70S1-9893, số máy 5C64209257, số khung RLCS5C640AY209255.

Vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 228/PNK-ĐCSHS ngày 30/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BL311).

  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc hai bị cáo Trương Công T và Trần Gia  mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Buộc bị cáo Trương Công T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Hai bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo (3);
  • - VKSND huyện Củ Chi (01);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (01);
  • - Công an huyện Củ Chi (02);
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi (01);
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (06);
  • - Bị hại (01);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (01)

Lưu: VT, Hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 329/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 329/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger