Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 329/2024/HS-ST

Ngày: 28/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Bà Phan Kim Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa:Ông Đinh Sỹ Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 302/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Trần Duy Nam V - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14 tháng 9 năm 1981 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Trần Vân T – đã chết và bà: Trần Thị Kiều V1 – sinh năm 1955 ; Vợ: Nguyễn Thị Kim L – sinh năm 1988; Con: Có 03 con (L1 sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016);Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm rời khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: - Bà Nguyễn Thị V2 - sinh năm 1957 - vắng mặt

Trú tại: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An

- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ông Lê Tuấn A – Văn phòng L2 – Đoàn luật sư tỉnh N - vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Duy Anh Đ, sinh năm 1989, trú tại khối H, phường T, thành phố V – vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 43 phút, ngày 17/01/2024, Trần Duy N V điều khiển xe ô tô biển số: 37K-271.35 (xe ô tô này V mượn của em gái là Trần Duy Anh Đ, sinh năm 1989, trú tại khối H, phường T, thành phố V – là em gái của V) di chuyển trên ngõ C, đường L, thuộc khối H, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, theo hướng từ trong ngõ đi ra đường L. Quá trình di chuyển, do V thiếu chú ý quan sát, đạp nhầm chân ga dẫn đến xe ô tô biển số: 37K-271.35 va chạm với xe đẩy tự chế và bà Nguyễn Thị V2 (sinh năm: 1957, trú tại: khối H, phường T, thành phố V) đang ngồi bán hàng bên trong ngõ, (cả xe đẩy và bà V2 đang ngồi sát mép tường rào ở đầu ngõ C, đường L). Hậu quả: bà Nguyễn Thị V2 bị thương.

Ngày 04/2/2024, anh Nguyễn Hoài T1 (Sinh năm: 1977, trú tại: khối H, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, là con trai của bà V2) có đơn trình báo đề nghị Công an giải quyết.

Bản kết luận giám định số 82/KL-KTHS(DVCH) ngày 11/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận về dấu vết cơ học:

  • Ngay trước thời điểm xảy ra va chạm: Xe ô tô biển số 37K-271.35 di chuyển trên ngõ C, theo hướng Đ - T; xe đẩy bán hàng tự chế đang ở trên ngõ C, mặt có các cánh cửa hướng ra phía ngoài (hướng Đông).
  • Không xác định được tốc độ di chuyển của xe ô tô biển số 37K-271.35 tại thời điểm xảy ra va chạm.
  • Vị trí va chạm đầu tiên của xe ô tô biển số 37K-271.35 với xe đẩy bán hàng tự chế:
    • + Trên hiện trường: Ở phần phía bên phải ngõ C, theo hướng từ đường L đi vào ngõ C.
    • + Trên phương tiện: Trên xe ô tô biển số 37K-271.35: Ở góc bên trái ba đờ xốc trước.
    • + Trên xe đẩy bán hàng tự chế: Ở mặt ngoài xe (mặt có cánh cửa).
  • Tư thế va chạm: Mặt lăn các bánh lốp của xe ô tô biển số 37K-271.35 và xe đẩy bán hàng tự chế đang tiếp xúc mặt đường.

Bản kết luận giám định số 211/KLTTCT-TTPY ngày 07/05/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh N kết luận Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị V2 (sinh năm 1957, trú tại khối H, phường T, TP V, Nghệ An) tại thời điểm giám định là 62% (Sáu mươi hai phần trăm).

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Trần Duy Nam V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số 315/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Trần Duy Nam V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Duy Nam V từ 15 - 18 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Phần trách nhiệm dân sự: bị cáo Trần Duy Nam V đã bồi thường số tiền 130.713.000đ cho bị hại, bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 523.573.110 đồng, tuy nhiên chỉ có cơ sở buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền từ 240.000.000đ đến 250.000.000 đồng. Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST, DSST.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Tại bài bảo vệ của mình, luật sư vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại các khoản chi phí điều trị và chi phí khác theo quy định pháp luật hiện hành.

Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét hành vi phạm tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Duy Nam V khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét dấu vết trên hai phương tiện, kết luận giám định y pháp, lời khai người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 43 phút, ngày 17/01/2024, Trần Duy N V điều khiển xe ô tô biển số: 37K-271.35 di chuyển trên ngõ C, đường L, thuộc khối H, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, theo hướng từ trong ngõ đi ra đường L. Do V thiếu chú ý quan sát, đạp nhầm chân ga dẫn đến xe ô tô biển số: 37K-271.35 va chạm với xe đẩy tự chế và bà Nguyễn Thị V2 đang ngồi bán hàng bên trong ngõ khiến bà Nguyễn Thị V2 bị thương với tỷ lệ thương tích 62%. Hành vi của bị cáo Trần Duy Nam V đã vi phạm vào khoản 23 điều 8 luật giao thông đường bộ, phạm vào điểm b khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ.

[2.2] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông, trật tự công cộng do Nhà nước thống nhất quản lý, làm thiệt hại đến sức khỏe của con người, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Qua điều tra đã xác định được, bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông có giấy phép lái xe theo quy định, bị cáo điều khiển xe ô tô là phương tiện nguy hiểm khi tham gia giao thông trên đường nhưng đã thiếu quan sát, đạp nhầm chân ga nên đã xảy ra tai nạn. Vì vậy cần xem xét mức án phù hợp với mức động hành vi của bị cáo.

[2.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình có bố là thương binh, có công với Nhà nước và được tặng thưởng huân chương, huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cứ trú rõ ràng. Vì vậy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm để thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề nhưng xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo

[2.5]. Về dân sự: Bị cáo Trần Duy Nam V đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 130.713.000đ, hiện tại người bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường chi phí điều trị theo bảng kê chi phí từ ngày 22/01/2024 đến ngày 18/6/2024 là 279.923.110 đồng; Tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị giảm sút 50.000.000 đồng; Tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại 169 ngày x 250.000đ = 42.250.000 đồng; Tiền ăn của người chăm sóc 86 ngày x 100.000đ = 8.600.000 đồng; Tiền mất thu nhập của người chăm sóc 86 ngày x 300.000đ = 25.800.000đ; Tiền bồi thưởng tổn thất tinh thần 2.340.000đ x 50 lần = 117.000.000đ. Tổng cộng yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 523.573.110 đồng.

Đối với yêu cầu bồi thường của người bị hại, quá trình điều tra, truy tố cho đến thời gian xét xử người bị hại cung cấp một số hóa đơn chứng từ về chi phí điều trị, tiền thuốc. Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận các hóa đơn chứng từ phù hợp với thời gian điều trị đúng với quy định pháp luật với tổng số tiền là: 163.604.321 đồng; Có một số hóa đơn chứng từ không có tên đơn vị bán, không hợp lệ, một số khoản chi phí viện phí người bị hại liệt kê nhưng không có hóa đơn chứng từ, một số hóa đơn chứng từ mua thuốc vào tháng 5,6/2024 nhưng không nằm trong thời gian điều trị tại bệnh viện và không có đơn thuốc của bác sỹ (Ví dụ: Hóa đơn xe cứu thương ngày 04/3/2024, Hóa đơn ngày 07/3/2024, 08/3/2024, 13/3/2024, 14/3/2024, 15/3/2024, 22/3/2024, 29/3/2024, kê viện phí 05/02/2024, 12/02/2024, 05,21/3/2024...) không có căn cứ để buộc bị cáo bồi thường. Đối với phần yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của bị hại và người chăm sóc và tiền bồi dưỡng sức khỏe thì chỉ chấp nhận mức theo quy định tại nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì ngày mất thu nhập là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú, ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng chia cho 26 ngày. Theo quy định tại Nghị định 74/2024/NĐ-CP về mức lương tối thiểu vùng thì thành phố V thuộc vùng II có mức lương tối thiểu vùng là 4.410.000 đông/tháng, bị hại yêu cầu bồi thường 169 ngày nhưng tại hồ sơ chỉ phản ánh hóa đơn chứng từ điều trị từ ngày 17/01/2024 đến ngày 22/4/2024 (96 ngày). Như vậy chỉ chấp nhận thu nhập thực tế bị mất của bị hai là 96 ngày x (4.410.000₫ : 26) = 16.283.076 đồng; Tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc 86 ngày x (4.410.000₫ : 26) = 14.586.923 đồng; Tiền ăn của người chăm sóc 86 ngày x 100.000đ/ngày = 8.600.000 đồng; Tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị giảm sút 96 ngày x (4.410.000₫ : 26) = 16.283.076 đồng; Tiền tổn thất tinh thần tại thời điểm bị thiệt hại mức lương cơ sở là 1.800.000đ, thiệt hại của bị hại là 62% nên chỉ chấp nhận 15 lần mức lương cơ sở là 15 x 1.800.000₫ = 27.000.000 đồng. Tổng các khoản trên là 82.783.075 đồng. Như vậy buộc bị cáo Trần Duy N V tiếp tục phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị V2 chi phí điều trị và các chi phí khác theo quy định pháp luật với tổng số tiền là: 246.357.396 đồng.

[3].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Duy Nam V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Duy Nam V 15 ( mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Duy Nam V cho UBND phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Trường hợp người bị cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cồng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

3. Về dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Các điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị định 74/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động. Buộc bị cáo Trần Duy N V tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị V2 tổng số tiền: 246.357.396 đồng (hai trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng).

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày những người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền bồi thường nêu trên nếu bị cáo không thanh toán khoản tiền đã tuyên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Trần Duy Nam V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST và 12.317.869 đồng án phí DSST.

Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Nơi nhận

  • - VKS, THADS TP Vinh;
  • - Công an TPVĩnh;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (để biết);
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồ Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 329/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 329/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger