|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 329/2024/HS-ST Ngày: 17/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Nga |
| Các hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Nguyễn Duy Tuyên |
| 2. Bà Nguyễn Thị Thưởng |
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 345/2024/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 363/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn M; sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Phố Đ, phường Q, thành phố T, Tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 và bà Lê Thị C, sinh năm 1958; Vợ Đoàn Thị V, sinh năm 1993; Có hai con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/6/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2019.
Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt.)
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1949. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Đỗ Nguyễn Thành N1, sinh năm 1982 (Con gái bà N)
Nơi thường trú: 2 T, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: Số A L, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 20/5/2024, Nguyễn Văn M (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, BKS 36A-885.78 di chuyển theo hướng N1 - B, khi đi đến km 327+200 Quốc lộ A (thuộc địa phận phường Q, thành phố T, Tỉnh Thanh Hóa) do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong đoạn đường có cảnh báo nguy hiểm “đi chậm” (biển báo W.245a) bị cáo đã đâm vào bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1949, trú tại phố A, phường Q, thành phố T) đang đi bộ qua đường làm bà N bị thương, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó tử vong hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày.
Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện gây tai nạn và khám nghiệm tử thi.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại km 327+200 Quốc lộ A, đoạn Đại lộ H thuộc phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, hướng B đi Hà Nội, hướng N1 đi Nghệ An, hướng Tây tiếp giáp đại lộ L, hướng đông tiếp giáp trường Q. Đường đại lộ H có dải phân cách cứng ở giữa phân đôi đường thành hai chiều phương tiện lưu thông riêng biệt. Hiện trường chính xảy ra tại chiều phương tiện lưu thông theo hướng Nghệ An đi Hà Nội, mặt đường rộng 10m được rải nhựa tương đối bằng phẳng, có vạch kẻ đường 2,1m (vạch trắng, nét đứt) phân thành 03 làn đường có kích thước lần lượt tính từ Đông sang T là 2,5m, 3,5m và 0,5m lề đường tiếp giáp giải phân cách cứng. Đường thông thoáng, không bị khuất tầm nhìn. Tại vị trí giữa hai chiều đường phương tiện lưu thông có đoạn khoảng mở giải phân cách cứng dài 60m.
Mở rộng hiện trường về phía Nam khoảng 220m, tại khoảng mở phân nhánh giữa đường Đ và đường dẫn phía Đông đi vào đại lộ H có gắn biển báo W.245a (biển báo “đi chậm”) có kèm biển phụ phạm vi tác dụng của biển 800m.
Lấy đầu mút giải phân cách cứng đầu phía bắc khoảng mở làm điểm mốc; Lấy mép phía Đông đường đại lộ H làm mép chuẩn. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, các dấu vết, vật chứng để lại tại hiện trường ghi nhận như sau:
- - Vết màu nâu đỏ (nghi máu) trên mặt đường, kích thước trong diện (0,5x0,4)m, vết có dạng bệt, tâm vết cách điểm mốc về phía Nam hơi chếch tây 10,8m, cách mép chuẩn 8,5m, được ghi nhận và đánh số (1) trên sơ đồ hiện trường.
- - Vị trí dừng đỗ cuối cùng của xe ô tô BKS 36A-885.78 trên mặt đường. Đầu xe hướng Bắc, đuôi xe quay hướng Nam; Hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải xe cách điểm vuông góc với tâm vết (1) về phía Nam 39m, cách mép chuẩn 0,4m, cách biển báo DP.135 (hết tất cả các lệnh cấm) về phía Bắc hơi chếch đông 06m. Hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe cách mép chuẩn 0,4m. Được ghi nhận và đánh số (2) trên trường sơ đồ hiện trường.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 36A-885.78:
Mặt trước bên ngoài, bên trái đầu xe có các vết tì trượt, cà trượt làm sạch bụi đất, móp méo kim loại, mòn xước sơn kích thước (152 x 37)cm. Các vết có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên chếch từ phải qua trái, mặt các vết tại mặt trước đầu xe in các van vải, tại mặt trên ngoài đầu xe bám dính chất màu nâu dạng tổ chức cơ thể người. Tại vị trí cà trượt làm mòn xước sơn có dạng hình cung, các vết cao cách mặt đất 24,8-106 cm
Kết luận giám định dấu vết để lại trên xe ô tô và bộ quần áo của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Các vết tỳ trượt, bề mặt in các vân (dạng vân vải) và bám dính chất màu nâu (dạng tổ chức cơ thể người) tại mặt trước bên ngoài bên trái đầu xe ô tô biển số 36A- 885.78 phù hợp do va chạm với nạn nhân Nguyễn Thị N tạo nên; Điểm va chạm đầu tiên: Mặt trước bên trái đầu xe ô tô BKS 36A-885.78 với bên trái người nạn nhân Nguyễn Thị N; Tại thời điểm va chạm, nạn nhân Nguyễn Thị N có hướng đứng, đi hoặc chạy từ phải sang trái so với hướng chuyển động của xe ô tô BKS 885.78; Không đủ cơ sở xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô BKS 36A-885.78 tại thời điểm xảy ra va chạm với nạn nhân Nguyễn Thị N; Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô cho BKS 885.78. tại thời điểm xảy ra va chạm với nạn nhân Nguyễn Thị N.
Kết luận giám định đoạn video mang tên “cam hành trình” của Phòng K Công an Tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong đoạn video.
Kết luận giám định tử thi bà Nguyễn Thị N: Xác định nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn M thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo xác định lỗi dẫn đến tai nạn là do bị cáo thiếu quan sát và không làm chủ tốc độ nên khi phát hiện bà N đi qua đường bị cáo đã phanh xe nhưng xe không kịp dừng và đã đâm vào bà N. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án
Về vật chứng dự án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, BKS 36A-885.78; 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, 01 Giấy biên nhận xác nhận đang giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô BKS 36A-885.78. Cơ quan điều tra đã hoàn trả cho bị can Nguyễn Văn M
01 bộ quần áo mà nạn nhân Nguyễn Thị N mặc khi xảy ra tai nạn giao thông. Cơ quan điều tra đã hoàn trả cho gia đình người bị hại.
01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông vận động tải Thanh Hóa cấp ngày 06/5/2024 cho Nguyễn Văn M, chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Về phần bồi thường dân sự:
Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo.
Tại Cáo trạng số 272/CT-VKSTP ngày 28 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 BLHS.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa: giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260 BLHS; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 18 đến 20 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử 36 đến 40 tháng tính từ ngày tuyên án. Vật chứng: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe đã thu giữ; Về bồi thường dân sự: Bị cáo, người đại diện của người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong không yêu cầu gì thêm nên không xét; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST.
Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 07 giờ 45 phút ngày 20 tháng 5 năm 2024, Nguyễn Văn M (có giấy phép lái xe theo quy định) đã điều khiển xe ô tô Huyndai i10, biển kiểm soát 36A-885.78 lưu thông trên đường, khi đi đến km 327+200 Quốc lộ A (thuộc địa phận phường Q, thành phố T, Tỉnh Thanh Hóa) đã đâm vào bà Nguyễn Thị N đang đi bộ qua đường làm bà N bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì tử vong do chấn thương sọ não.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe tham gia giao thông tại đoạn đường có cảnh báo nguy hiểm “đi chậm” (biển w.245a) nhưng không chú ý quan sát, không chấp hành giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn là vi phạm quy định tại khoản 1, 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; Vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ; Xâm phạm tính mạng của người khác. VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 BLHS là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hậu quả làm một người chết. Nguyên nhân dẫn đến hậu quả là do lỗi của bị cáo, khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, không chấp hành giảm tốc độ tại nơi có biển báo nguy hiểm “đi chậm”. Vì vậy khi thấy bà N đi bộ qua đường bị cáo đã không kịp xử lý an toàn dẫn đến đâm vào bà N làm bà N bị thương tích và sau đó tử vong. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Vì vậy cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã tự nguyện bồi
thường thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; Người đại diện của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51- BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu,
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; Nhân thân bị cáo đã 1 lần bị kết án, tuy nhiên đã được xóa án tích thời gian dài, lần phạm tội này là lỗi vô ý; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc không bắt bị cáo đi chấp hành án không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật
[4] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị cáo và đại diện gia đình bị hại (như nêu trên); Đối với giấy phép lái xe của bị cáo trả lại cho bị cáo sau khi án có hiệu lực pháp luật là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Chị Đỗ Nguyễn Thành N1 người đại diện của người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xét.
[6] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 21; khoản 1 điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 20 (hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thủ thách 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho chính quyền UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo M giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Văn M
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường; Người đại diện của người bị hại không có yêu cầu gì thêm, HĐXX không xét.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Đỗ Nguyễn Thành N1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 329/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 329/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M (vi pham quy định về than giá GTĐB)
