|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 329/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2025 VV: Ly hôn giữa ông Hiển và bà Huệ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo và bà Trịnh Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 178/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đức H; sinh ngày 19-8-1958; số Căn cước công dân: [...]; cư trú: Thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị H1; sinh ngày 02-3-1961; số Căn cước công dân: [...]; cư trú tại: Thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt ông H, bà H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 18-4-2025, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn ông Trần Đức H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Bùi Thị H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (N là thành phố N), tỉnh Nam Định vào ngày 14-4-2001. Sau ngày kết hôn vợ chồng ông chung sống hoà thuận được khoảng một năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn lúc đầu là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm về lối sống chung và sinh hoạt chung nên dẫn đến vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, đánh chửi nhau. Mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng và rất nhiều lần nhờ Trưởng thôn can thiệp, hoà giải nhưng không được. Sau đó ông và bà H1 sống ly thân, chia ra mỗi người sống một tầng nhưng bà H1 tự ý khoá trái cửa phòng của ông dẫn đến việc ông không thể ra ngoài sinh hoạt vì nhà vệ sinh và nhà bếp đều ở ngoài, sau đó ông trưởng thôn đến chứng kiến sự việc và con trai ông mở cửa ông mới ra ngoài được. Ông không thể chịu đựng được bà H1 nên đã làm đơn xin ly hôn với bà H1. Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, mâu thuẫn giữa ông và bà H1 ngày càng trầm trọng hơn, bà H1 tính tình nóng nảy, không kiềm chế được bản tính của mình, bạo hành tinh thần ông bằng những lời chửi bới tục tĩu, nhục mạ ông, mỗi lần nhìn thấy ông là bà H1 lại gây sự, chửi bới, dùng vật dụng xung quanh để phang vào người ông dẫn đến việc ông không thể tiếp tục ở lại nhà mà phải đi ở nhờ nơi khác vì ông sợ nếu ông cứ ở nhà thì giữa ông và bà H1 sẽ đánh nhau gây thương tích.
Nay ông H xác định tình cảm và tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin được ly hôn với bà H1.
Về con chung: Ông và bà Bùi Thị H1 có 01 con chung là chị Trần Thị H2, sinh ngày 26-6-2003; hiện nay chị H2 đã trưởng thành, lao động tự lập được nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Ông và bà H1 không có nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các nội dung khác: Hiện nay bà H1 không đồng ý ly hôn với ông vì lý do nếu ly hôn thì bà H1 không có nơi sinh sống. Nhà nằm trên thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 353751 ngày 15-12-1992 tại địa chỉ thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định là tài sản riêng của ông có trước thời điểm kết hôn với bà H1. Ông không đồng ý chia đất cho bà H1 hoặc để bà H1 tiếp tục sinh sống ở nhà ông sau khi ly hôn như yêu cầu của bà H1. Vậy, để hỗ trợ và tạo điều kiện cho bà H1 ổn định cuộc sống sau ly hôn, ông H tự nguyện hỗ trợ cho bà H1 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và để bà H1 lưu cư lại nhà của ông trong thời hạn 03 tháng; hết thời hạn trên buộc bà H1 phải chuyển ra khỏi nhà của ông, ông đề nghị Toà án ghi nhận sự tự nguyện này của ông.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 07-5-2025 và quá trình làm việc cũng như tại phiên toà, bị đơn bà Bùi Thị H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H1 trình bày về điều kiện và thời gian kết hôn, thời gian vợ chồng sống ly thân giống như lời khai của ông H.
Theo bà H1 thì nguyên nhân mâu thuẫn gia đình ngoài nguyên nhân tính tình vợ chồng không hoà hợp còn do nguyên nhân về kinh tế gia đình. Bà thường xuyên đi làm còn ông H ở nhà làm việc riêng của ông H; ông H đi làm không bao giờ đưa tiền cho bà giữ để lo việc chung của gia đình mà bà còn phải góp tiền ăn cùng với ông H. Trong suốt quá trình vợ chồng chung sống đến khi vợ chồng sống ly thân thì kinh tế của bà và ông H độc lập, tiền của ai kiếm được thì người đó tự tiêu. Bản thân ông H không hỗ trợ bà về mặt kinh tế, hàng xóm nói lại với bà là ông H còn lấy đồ của bà khi bà không có nhà (là những đồ dùng lặt vặt trong gia đình, ví dụ như lúc bà và ông H ở riêng, ông lấy của bà túi xà phòng, chổi, bàn là ...). Thời gian đầu kết hôn, cuộc sống chung của bà và ông H diễn ra bình thường, sau đó phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, bà thấy ức chế với ông H về tính tình của ông H, cách sống của ông H và cách ông H đối xử với bà nên bà mới bắt đầu cãi chửi nhau với ông H. Bà thấy cuộc sống vợ chồng của bà và ông H diễn ra vẫn bình thường, bà chấp nhận được tình trạng gia đình như hiện nay vì tiền bà làm ra bà tự tiêu, không phụ thuộc vào ông H, ông H tự lo cho cuộc sống của ông H nên bà vẫn muốn duy trì cuộc hôn nhân này. Hiện nay bà đã tuổi cao, nếu ly hôn với ông H thì bà không còn nơi nào để ở, vì vậy, nếu ông H muốn ly hôn với bà thì ông H phải chia cho bà 1/3 quyền sử dụng đất của ông H hoặc ông H phải đưa cho bà 300.000.000 đồng để bà tạo lập nơi ở mới. Nếu ông H cương quyết xin ly hôn bà cũng không đồng ý, bà cũng không có biện pháp gì cải thiện tình trạng hôn nhân hiện nay của ông bà.
Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung là chị Trần Thị H2, sinh ngày 26-6-2003; hiện nay chị H2 đã trưởng thành, lao động tự lập được nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung và những vấn đề khác có liên quan: Bà và ông H không có.
Tài sản riêng: Bà H1 xác định năm 2001, sau khi kết hôn với ông H bà đã đưa tiền về để sửa 01 nhà lợp proximang nhưng hiện nay nhà này đã phá dỡ, bà không nhớ số tiền là bao nhiêu; khoảng năm 2016 bà đưa tiền cho ông H để sơn lại tầng 1 nhà bà và ông hiển đang ở, hiện nay nước sơn đã cũ, bà không nhớ số tiền đưa cho ông H là bao nhiêu; khoảng 7 năm trước bà cho ông H vay 03 chỉ vàng (Không viết giấy vay nợ, không có người chứng kiến khi bà đưa vàng cho ông H). Bà không làm đơn khởi kiện đòi lại số tiền, vàng trên từ ồn H vì bà chưa tìm được chứng cứ để chứng minh những khoản tiền, vàng đã đưa cho ông H.
Về nội dung khác: Sau khi bà và ông H kết hôn thì ông bà chung sống trong ngôi nhà ở thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, nhà và quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông H có trước khi kết hôn với bà. Bà đã sống hơn 20 năm trong ngôi nhà này nên vẫn có nhu cầu sống ở đây lâu dài, nếu Toà án giải quyết cho ông H ly hôn với bà thì bà vẫn có nguyện vọng được sinh sống ở đây.
* Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 12-6-2025, Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định cung cấp như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đức H và bà Bùi Thị H1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là thành phố N), tỉnh Nam Định vào ngày 14-4-2001. Trong quá trình chung sống giữa ông H và bà H1 phát sinh mâu thuẫn nên hay đánh, chửi nhau. Ông trưởng thôn đã rất nhiều lần phải khuyên giải hai bên nhưng không có kết quả, mâu thuẫn của ông H và bà H1 ngày càng trầm trọng nên trong thời gian Toà án giải quyết vụ án, ông H phải chuyển đi sinh sống ở nơi khác để tránh xảy ra đánh chửi nhau. Nay địa phương nhận thấy mâu thuẫn gia đình của ông H và bà H1 đã rất trầm trọng, hai ông bà gặp mặt nhau là cãi chửi nhau gây mất trật tự an ninh khu xóm; để tránh hậu quả nghiêm trọng hơn có thể xảy ra, địa phương đề nghị Toà án giải quyết cho ông H và bà H1 ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Ông H và bà H1 có 01 con chung là chị Trần Thị H2, sinh ngày 26-6-2003 hiện nay đã trưởng thành, lao động tự lập được.
Về các nội dung khác: Tại địa phương không có tài sản và quyền sử dụng đất nào đứng tên chung của vợ chồng ông H và bà H1 hoặc đứng tên một mình bà H1. Quyền sử dụng đất và nhà trên đất hiện nay ông H và bà H1 đang sử dụng tại thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định là tài sản ông H có trước khi kết hôn với bà H1.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.
- Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Căn cứ vào khoàn 1 Điều 56, Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 2 của Luật người cao tuổi; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Điều Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa ông Trần Đức H và bà Bùi Thị H1.
- + Về con chung: Con chung của ông H và bà H1 là chị Trần Thị H2, sinh ngày 26-6-2003 đã trưởng thành, lao động tự lập được nên không xem xét giải quyết.
- + Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và những vấn đề khác có liên quan: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- + Về nội dung khác: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đức H hỗ trợ bà Bùi Thị H1 số tiền 50.000.000 đồng và để bà H1 lưu cư lại nhà của ông H tại thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định trong thời hạn 03 tháng, kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạn trên bà H1 phải chuyển ra khỏi nhà của ông H.
- + Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông H là người cao tuổi nên đề nghị miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn là bà Bùi Thị H1 có đăng ký thường trú tại thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, do đó, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đã thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đức H và bà Bùi Thị H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là Thành phố N), tỉnh Nam Định ngày 14-4-2001, như vậy hôn nhân của ông H và bà H1 là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Sau kết hôn ông H và bà H1 chung sống hòa thuận được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, trong cuộc sống chung thường xảy ra cãi, chửi, đánh nhau. Đến thời điểm hiện nay ông H và bà H1 đã sống ly thân. Như vậy, trong thời gian vợ chồng chung sống ông H và bà H1 không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không xây dựng, gìn giữ, bảo vệ hạnh phúc gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, việc này trái với quy định tại Điều 19, 21 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân của ông H, bà H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông H, xử cho ông H được ly hôn với bà H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Ông Trần Đức H và bà Bùi Thị H1 có 01 con chung là chị Trần Thị H2, sinh ngày 26-6-2003; hiện nay chị H2 đã trưởng thành, lao động tự lập được, ông H và bà H1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật.
[4]. Về các nội dung khác:
- Về lời khai của bà H1 về tài sản riêng của bà: Bà H1 khai sau khi kết hôn với ông H bà đã đưa tiền riêng của bà cho ông H sửa nhà vào năm 2001, sơn nhà vào khoảng năm 2016 và cho ông H vay 03 chỉ vàng. Toà án đã giai thích, hướng dẫn bà H1 làm đơn yêu cầu toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bà H1 không làm đơn vì lý do bà chưa tìm được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Vì vậy, Toà án không tiến hành giải quyết nội dung này trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về yêu cầu Toà án ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ bà H1 50.000.000 đồng của ông H: Hội đồng xét xử xét thấy, đây là sự tự nguyện của ông H nhằm hỗ trợ bà H1 để bà H1 ổn định cuộc sống sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của ông H là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về yêu cầu Toà án ghi nhận sự tự nguyện của ông H cho bà H1 lưu cư trong thời hạn 03 tháng, hết thời hạn trên buộc bà H1 phải chuyển ra khỏi nhà của ông: Qua các tài liệu, chứng cứ Toà án đã thu thập được và lời khai của ông H, bà H1 đều xác định, căn nhà nằm trên thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 353751 ngày 15-12-1992 tại địa chỉ thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định là tài sản riêng của ông H. Sau khi kết hôn, bà H1 và ông H đã chung sống tại căn nhà trên. Mặt khác, tại địa phương bà H1 không còn nơi sinh sống nào khác; bà H1 không đồng ý ly hôn vì bà không còn nơi ở nào ngoài nơi ở hiện nay. Như vậy, bà H1 có khó khăn về nơi ở sau ly hôn. Để tạo điều kiện cho bà H1 có thời gian chuẩn bị nơi ở mới sau ly hôn nên ông H đã tự nguyện cho bà H1 lưu cư trong thời hạn 03 tháng kể từ khi quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà H1 chấm dứt; hết thời gian trên bà H1 phải chuyển đi nơi khác. Xét đây là sự tự nguyện của ông H, không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên được ghi nhận.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Trần Đức H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 2 của Luật người cao tuổi; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Xử ly hôn giữa ông Trần Đức H và bà Bùi Thị H1.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đức H như sau:
- - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đức H hỗ trợ bà Bùi Thị H1 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- - Bà Bùi Thị H1 được quyền lưu cư tại căn nhà ở địa chỉ: Thôn N, xã M, thành phố N,tỉnh Nam Định (Căn nhà nằm trên thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 353751 ngày 15-12-1992 mang tên ông Trần Đức H) trong thời hạn 03 (Ba) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; hết thời hạn trên buộc bà Trần Thị H3 phải chuyển đi nơi khác.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Trần Đức H được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
Ông Trần Đức H và bà Bùi Thị H1 có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hải Ninh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 329/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 329/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hộn
