Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 329/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 6 - 2025

V/v "Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Huyền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lâm và ông Bùi Văn Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Ngọc Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 130/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu T, sinh năm 1981;

HKTT: Số C, ngõ C, tổ E, phố T, phường L, quận L, Thành phố Hà Nội.

Chỗ ở: Số A, ngõ X, đường B, phường L, quận L, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Vũ Đức T2, sinh năm 1979;

Nơi cư trú: Số C, ngõ C, tổ E, phố T, phường L, quận L, Thành phố Hà Nội.(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh T2 vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại Tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu T trình bày:

Chị và anh Vũ Đức T2 tự nguyện kết hôn, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện G, Thành phố Hà Nội (nay là phường L, quận L, Thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận kết hôn số: 55/2003 ngày 06/5/2003. Trong quá trình chung sống, anh T2 không làm tròn trách nhiệm cuả người chồng, người cha mà thường xuyên vắng nhà, bỏ bê vợ con cũng như không đỡ đần chăm lo cuộc sống gia đình. Chị T một mình lo toan gánh vác nên vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Từ tháng 02 năm 2018 đến nay anh chị sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị xin được ly hôn với anh T2.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Vũ Sơn L, sinh ngày 09/8/2003 và cháu Vũ Đức P, sinh ngày 06/7/2008. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Vũ Đức P, sinh ngày 06/7/2008; chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Vũ Sơn L, sinh ngày 09/8/2003 đã trưởng thành, sống tự lập việc ở với ai do cháu tự quyết định.

Về tài sản chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Vũ Đức T2

đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, thông báo về quan điểm của nguyên đơn, triệu tập hợp lệ nhưng anh T2 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà phát biểu:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa xét xử.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Diệu T được ly hôn với anh Vũ Đức T2.

Về con chung: Giao cháu Vũ Đức P, sinh ngày 06/7/2008 cho chị T nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi. Cháu Vũ Sơn L, sinh ngày 09/8/2003 đã trưởng thành, sống tự lập việc ở với ai do cháu tự quyết định.

Về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu T và anh Vũ Đức T2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận L, thành phố Hà Nội ngày 06/5/2003. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại nhà anh T2 tại địa chỉ số C ngõ C, tổ E, phố T, phường L, quận L, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, con nhỏ trong khi anh T2 mải chơi, không lo toan gánh vác, giúp đỡ chị trong cuộc sống gia đình. Ngoài ra anh T2 còn nợ nần nhiều người và có thời gian bỏ nhà đi để chị T phải gánh vác, đối phó với mọi khó khăn trong gia đình. Bản thân anh T2 không làm tròn vai trò của người đàn ông, người chồng, người cha nên vợ chồng thiếu sự tôn trọng và thường xuyên mâu thuẫn. Năm 2018 anh chị đã có thời gian sống ly thân nhau do không tìm được tiếng nói chung. Quá trình giải quyết ly hôn, anh T2 cũng vắng mặt, không có thiện chí hòa giải.

Quá trình giải quyết ly hôn tại Tòa án, anh T2 cũng không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ vợ chồng theo giấy triệu tập và vắng mặt cả phiên tòa xét xử thể hiện ý thức không tuân thủ pháp luật cũng như không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng anh chị kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát.

Về con chung:

Xác định anh chị có 02 con chung là Vũ Sơn L, sinh ngày 09/8/2003 và Vũ Đức P, sinh ngày 06/7/2008. Chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Vũ Đức P, sinh ngày 06/7/2008 là phù hợp với nguyện vọng của con cũng như hoàn cảnh thực tế. Đối với cháu Vũ Sơn L, sinh ngày 09/8/2003 đã trưởng thành, sống tự lập, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu anh T2 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung tự và nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chung các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3]. Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Diệu T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí LH sơ thẩm .

[4]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147, điểm b, khoản 2, Điều 227; 269; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị Diệu T.

Chị Nguyễn Thị Diệu T được ly hôn với anh Vũ Đức T2.

2. Về con chung:

Xác định anh chị có 02 con chung là Vũ Sơn L, sinh ngày 09/8/2003 và Vũ Đức P, sinh ngày 06/7/2008.

Giao cháu Vũ Đức P, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2008 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh Vũ Đức T2 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật

Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chung các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Diệu T phải chịu 300.000 đồng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí ngày 21 tháng 3 năm 2025, theo biên lai số 0051745 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - UBND phường Long Biên;
  • - Chi cục THADS quận Long Biên;
  • - Lưu: Hồ sơ, Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 329/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 329/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu T, sinh năm 1981 Bị đơn: Anh Vũ Đức T2, sinh năm 1979
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger