TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 329/2025/DS-ST Ngày: 23-5-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuý Như
Các Hội thẩm nhân dân:
- Nguyễn Thị Quế Nhung
- Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1198/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 511/2025/QÐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ
Trụ sở: B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị L - Chức vụ: Chuyên viên tố tụng, là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo giấy ủy quyền số 8781/UQ-PVB ngày 30 tháng 10 năm 2024).
Địa chỉ: B đường L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Hồng L1 - Sinh năm 1974
Địa chỉ: 4, Khu phố G (Nay là Khu phố D), phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/9/2020, Ngân hàng TMCP Đ (Sau đây gọi tắt là ngân hàng) và bà Phạm Thị Hồng L1 đã ký kết Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 065/HĐTD/PVB-LĐH, thông tin cụ thể như sau: Số thẻ tín dụng: 5425538883579448; Ngày phát hành: 16/09/2020; Ngày hết hạn: 30/09/2023; Hạn mức thẻ: 51.900.000 đồng; Lãi suất phát vay: 25%/năm; Mục đích vay: tiêu dùng.
Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Đ đã thực hiện cấp hạn mức thẻ tín dụng cho bà Phạm Thị Hồng L1 số tiền 51.900.000 đồng (Năm mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng).
Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Phạm Thị Hồng L1 đã tiêu dùng và thực hiện trả nợ cho ngân hàng số tiền cụ thể là: 211.300.000 đồng (Trong đó gốc là: 209.943.888 đồng, lãi là: 1.231.274 đồng, phí là: 124.838 đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bị đơn bà Phạm Thị Hồng L1 thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/03/2025 là 339.248.949 đồng. Trong đó: Gốc là 49.431.112 đồng; Lãi là 97.589.589 đồng; P là 192.228.248 đồng;
Buộc bị đơn bà Phạm Thị Hồng L1 phải trả cho Ngân hàng các khoản nợ lãi và phí phát sinh theo Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 065/HĐTD/PVB-LĐH kể từ ngày 17/03/2025 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ đối với các khoản vay trên.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Phạm Thị Hồng L1 phải thanh toán một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2025 là 379.865.931 đồng. Trong đó: Gốc là 49.431.112 đồng; Lãi là 108.225.638 đồng; P là 222.209.180 đồng ngay một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Đồng thời, buộc bị đơn bà Phạm Thị Hồng L1 phải trả cho Ngân hàng các khoản nợ lãi và phí phát sinh theo Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 065/HĐTD/PVB-LĐH kể từ ngày 24 tháng 5 năm 2025 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ đối với các khoản vay trên.
* Về ý kiến, đề nghị của bị đơn:
Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa cũng không gửi bất kỳ văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 12 tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đến Tòa án để giải quyết vụ kiện.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc giao trả tiền vốn và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng do hai bên đã xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại địa chỉ: 4, Khu phố G (Nay là Khu phố D), phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên theo quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về các yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:
Hồ sơ thể hiện, vào ngày 09/9/2020, giữa bà Phạm Thị Hồng L1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có giao kết, thực hiện hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Nguyên đơn là ngân hàng thương mại hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên được cấp tín dụng theo hình thức “phát hành thẻ tín dụng” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017. Việc nguyên đơn và bị đơn giao kết hợp đồng tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.
Ngân hàng đã cấp cho bà L1 thẻ tín dụng số 5425538883579448 với hạn mức thẻ là 51.900.000 đồng, mục đích tiêu dùng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà L1 đã thực hiện các giao dịch và phát sinh dư nợ. Quá trình sử dụng, bà L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bà L1 là căn cứ để ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ theo quy định tại Điều khoản và điều kiện về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tại P1 phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Lãi và phí được ngân hàng tính theo quy định tại quy định về phí và lãi suất của Điều khoản và điều kiện về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tại P1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 và 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp, có cơ sở xác định, tính đến ngày 23/5/2025, bà L1 còn nợ ngân hàng số tiền là 379.865.931 đồng. Trong đó: Gốc là 49.431.112 đồng; Lãi là 108.225.638 đồng; P là 222.209.180 đồng.
Việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải giao trả toàn bộ số tiền vốn và lãi chưa thanh toán là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[4] Về án phí:
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch.
Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 227, 228, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án Dân sự;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Phạm Thị Hồng L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ một lần toàn bộ số tiền nợ vốn và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 065/HĐTD/PVB-LĐH ngày 09/9/2020 tạm tính đến hết ngày 23 tháng 5 năm 2025 là 379.865.931 (Ba trăm bảy mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi lăm) đồng. Trong đó: Gốc là 49.431.112 (Bốn mươi chín triệu bốn trăm ba mươi mốt ngàn một trăm mười hai) đồng; L2 là 108.225.638 (Một trăm lẻ tám triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn sáu trăm ba mươi tám) đồng; P là 222.209.180 (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm linh chín ngàn một trăm tám mươi) đồng.
Buộc bà Phạm Thị Hồng L1 vẫn phải tiếp tục chịu các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận với Ngân hàng TMCP Đ kể từ ngày 24 tháng 5 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ phù hợp với quy định của pháp luật.
Bà Phạm Thị Hồng L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ một lần toàn bộ số tiền nêu trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí:
2.1 Buộc bà Phạm Thị Hồng L1 phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 18.993.297 (mười tám triệu chín trăm chín mươi ba ngàn hai trăm chín mươi bảy) đồng.
2.2 Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện là 6.446.528 (Sáu triệu bốn trăm bốn mươi sáu ngàn năm trăm hai mươi tám) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0049719 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
4. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Túy Như |
Bản án số 329/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 329/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
