TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 328 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-10-2023 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa
Ông Mai Xuân Thường
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lữ Thị T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Việt Nam; vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Yan Y, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn B, thị trấn H, huyện T, thành phố A, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lữ Thị T trình bày:
Chị và anh Yan Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Cục hành chính dân sự tỉnh H, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số J410000-2017-000454 ngày 16/8/2017. Sau khi kết hôn đến cuối năm 2018, sau chị sinh con đầu lòng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khác biệt về tính cách và quan điểm sống, lối sống, vợ chồng không có sự tin
tưởng lẫn nhau. Năm 2021 vợ chồng sống ly thân và chị trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay. Hiện tại, chị Lữ Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Yan Y.
Về con chung: Chị và anh Yan Y có 01 con chung là Yan Y1, sinh ngày 22/6/2018, quốc tịch Cộng hòa nhân dân T1. Hiện cháu Yan Y1 đang được anh Y2 Yongli chăm sóc nuôi dưỡng tại nước Cộng hòa nhân dân T1. Nếu ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Y2 Yongli chăm sóc nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Y2 Yongli không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị Lữ Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Yan Y, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thực hiện ủy thác tư pháp ra nước ngoài và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên cho đến nay, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An vẫn chưa nhận được thông báo về kết quả ủy thác tư pháp về tống đạt cũng như lời khai, tài liệu chứng cứ của anh Yan Y cung cấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lữ Thị T, cho chị Lữ Thị T được ly hôn với anh Yan Y. Giao con chung là Yan Y1, sinh ngày 22/6/2018 cho anh Y2 Yongli chăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị T do anh Yan Y chưa yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị Lữ Thị T không yêu cầu, anh Yan Y chưa có ý kiến, dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lữ Thị T có quốc tịch Việt Nam và địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, bị đơn anh Yan Y có quốc tịch và địa chỉ cư trú tại nước Cộng hòa nhân dân T1. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Về thủ tục hòa giải và sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lữ Thị T đã nộp đơn xin ly hôn và cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng do bận công việc nên đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Yan Y3 li, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã tiến hành ủy thác tư pháp ra nước ngoài, tống đạt các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định định xét xử cho anh Yan Y. Bộ Tư pháp Việt Nam đã tiến hành gửi hồ sơ ủy thác tư pháp theo quy định cho cơ quan có thẩm quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để thực hiện việc ủy thác tư pháp. Tuy nhiên, từ đó đến nay Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An chưa nhận được thông báo về kết quả tống đạt cho bị đơn anh Yan Y. Ngày 14/7/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã tiến hành mở phiên tòa nhưng anh Yan Y vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Tòa án đã có Công văn số 309/CV-TA ngày 14/7/2023 đề nghị Bộ Tư pháp Việt Nam thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự anh Yan Y nhưng hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản, Tòa án không nhận được văn bản trả lời của Bộ Tư pháp nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 và điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lữ Thị T và anh Yan Y kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống khác nhau, thiếu tin tưởng lẫn nhau. Hiện tại, chị Lữ Thị T đã về Việt Nam, anh Yan Y ở nước ngoài và chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Lữ Thị T với anh Yan Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lữ Thị Tình yêu c giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Chị Lữ Thị T và anh Yan Y có 01 con chung là Yan Y1, sinh ngày 22/6/2018, quốc tịch Cộng hòa nhân dân T1. Hiện cháu Yan Y1 đang được anh Yan Y chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Y2 Yongli vì hiện tại cháu Y2 Yie đang ở với anh Yan Y ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Xét thấy, nguyện vọng của chị T phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay anh Yan Y là người trực tiếp nuôi con, còn chị T đã về Việt Nam. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, giao cho anh Yan Y được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh Yan Y3 Li vắng mặt và
chưa có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con do đó Tòa án không có căn cứ để giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lữ Thị T không yêu cầu, anh Yan Y chưa có ý kiến. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5]. Về án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lữ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 153, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469, điểm c khoản 5 Điều 477 và khoản 2, khoản 3 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T2 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lữ Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lữ Thị T và anh Yan Y ly hôn.
2. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Yan Yie, sinh ngày 22/6/2018 cho Yan Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Chị Lữ Thị T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Về án phí, lệ phí: Chị Lữ Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí chị T đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0012230 ngày 19/10/2022 và 0012354 ngày 14/12/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Lữ Thị T đã nộp xong tiền án phí ly hôn sơ thẩm và tiền lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Lữ Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Yan Y vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hải Minh |
Bản án số 328/2023/HNGĐ-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 328/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
