|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 328/2024/HS-ST Ngày: 09-12-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Ông Huỳnh Hữu Tường
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 480/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1851/2024/QĐXXST ngày 26/11/2024, đối với các bị cáo:
-
Trần Minh C; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1996, tại: tỉnh Quảng Ngãi; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi cư trú: 18/17/28, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Minh P, sinh năm 1967; Con bà: Võ Thị Thanh B (đã chết); Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Từ tháng 02/2016 đến tháng 01/2018 tham gia nghĩa vụ quân sự tại kho trạm kỹ thuật 719, V H quận, Quân chủng Hải quân.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Thanh L; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Cấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Nhà không số (F) Tổ A, ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1979; Vợ con chưa có; Tiền sự: Không;
Tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử 08 năm 09 tháng về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 167/HSST ngày 09/12/2017 chấp hành xong ngày 29/8/2023 đã đóng án phí và nộp lại số tiền do phạm tội mà có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 (có mặt ại phiên tòa).
Bị hại: Anh Võ Hoàng Q
Địa chỉ: G, Tổ D, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Nguyễn Quốc H1
Địa chỉ: 9 ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
-
Anh Nguyễn Tiến L2
Địa chỉ: 18/17/6 đường TMT B, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).
-
Anh Lê Minh P1
Địa chỉ: Số A, Khu phố B, Phường A, Thị xã G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để đáo hạn Ngân hàng nên vào tháng 12/2020, Võ Hoàng Q vay của Nguyễn Tiến L2 số tiền là 420.000.000 đồng, thời hạn vay không giới hạn với mức lãi suất là 5%/1 tháng (tương đương 60%/ năm, không vượt quá lãi suất gấp 5 lần theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015). Q đã trả cho L2 số tiền lãi khoảng 300.000.000 đồng. Sau đó, do tình hình dịch Covid 19 xảy ra nên Q chưa xoay kịp nguồn tiền để trả lãi và vốn cho L2. Đến tháng 05/2023, sau thời gian Q không trả tiền lãi hàng tháng, để tạo cớ cho Q có trách nhiệm trả tiền nên L2 nói với Q là số tiền trên L2 mượn của Trần Minh C nên Q phải có trách nhiệm trả tiền gốc và tiền lãi cho C. Đồng thời, L2 liên hệ với C để nhờ C thu tiền lãi từ Q, mỗi tháng với số tiền là 21.000.000 đồng. C giúp L2 thu được 02 tháng tiền lãi suất từ Q với số tiền là 42.000.000 đồng. Sau đó, Q lại chậm trễ trong việc trả tiền lãi vay thì C đến nhà Q để gặp Q và gia đình của Q để thỏa thuận việc trả tiền lãi và tiền gốc. Nội dung thỏa thuận là “Đến ngày 30/11/2023 nếu Q và gia đình Q chưa kịp bán nhà để trả nợ thì mỗi tháng Q và gia đình Q sẽ trả cho C và L2 số tiền lãi như thỏa thuận ban đầu”.
Ngày 11/12/2023, khi Q không trả tiền theo đúng hẹn nên C gọi điện cho L2 nói là để C qua nhà của Q nói chuyện trước, khoảng 30 phút sau thì L2 điều khiển xe mô tô đến nhà Q. Tại đây, giữa L2 và Q có xảy ra cự cãi về việc chậm trả nợ nên L2 có dùng tay phải đánh vào bả vai bên trái của Q 01 cái nhưng không gây thương tích.
Ngày 13/12/2023, C rủ L2 đến quán cà phê của C tại địa chỉ số D, đường H, Khu phố E, phường T, Quận A để bàn bạc việc yêu cầu Q trả tiền. Tại đây, C đề xuất với L2 sẽ đi tạt sơn nhà Q để gây sức ép nhằm mục đích ép Q trả tiền lãi hàng tháng cho đầy đủ, nhưng L2 không đồng ý. Đến ngày 14/12/2023, C tiếp tục gọi điện thoại cho L2 nói L2 cho C 4.000.000 đồng để thuê một người nữa thực hiện việc tạt sơn nhà Q thì L2 nói để hỏi vợ rồi sẽ trả lời, sau đó không thấy L2 gọi điện thoại lại nên đến chiều ngày 15/12/2023 C hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream (xuất xứ Trung Quốc), màu nâu, biển số 63S3-0770 của Nguyễn Quốc H1 (không nói cho H1 biết mục đích mượn xe) để đi đến một cửa hàng bán sơn (không rõ địa chỉ) trên đường Q, thuộc phường T, Quận A để mua 50.000 đồng sơn màu đen, dạng lỏng rồi đem về quán của C. Tại đây, C trộn sơn đen vừa mua với dầu ăn sau đó đổ vào chai nhựa màu xanh, nhãn hiệu 7up.
Đến 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh L đến quán của C để nhậu, thì C thuê L đi tạt sơn nhà Q tại địa chỉ số G, Tổ D, Khu phố D, phường T, Quận A. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 16/12/2023, C điều khiển xe mô tô biển số 63S3-0770 chở L cầm theo 01 chai nhựa màu xanh, nhãn hiệu 7up bên trong có chứa sơn đen trộn với dầu ăn và 01 ca nhựa màu vàng đến trước nhà Q. Khoảng 00 giờ 10 phút khi đến địa chỉ số G, Tổ D, Khu phố D, phường T, Quận A, C chỉ vào nhà của Q, L xuống xe đổ sơn ra ca nhựa rồi tiến lại gần nhà tạt vào nhà, đồng thời ném chai nhựa chứa sơn vào trong nhà rồi lên xe do C điều khiển tẩu thoát. Khi đến nhà Q để tạt sơn thì C không nói cho L2 biết trước, sau khi C và L đã thực hiện xong hành vi tạt sơn vào nhà của Q thì đến khoảng 15 giờ ngày 16/12/2023, C nhắn tin cho L2 báo việc đã tạt sơn nhà Q. Đến ngày 17/12/2023, C tiếp tục nhắn tin cho L2 với nội dung bảo L2 chuyển 4.000.000 đồng để trả tiền công cho L để L đi trốn. L2 không yêu cầu C và L đi tạt sơn nhà Q để đòi nợ, mọi việc do C tự thực hiện, sau khi xong việc mới báo cho L2 biết, chính vì việc tiền nợ của L2 mà C và L đã gây ra việc tạt sơn nhà Q nên L2 đã chuyển cho C số tiền 2.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, C và L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập (bút lục 118-120, 172-173, 182-185, 189-200 ).
Tại Kết luận định giá số 376/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự Quận A, kết luận: Chi phí khắc phục, sửa chữa, tẩy sửa 01 (một) cửa cổng bằng sắt diện tích 1,54m x 2,35m; 01 (một) cột hàng rào trụ bê tông xi măng cao 2,5m; 01 (một) sân lót gạch men diện tích 5,5m x 4m; 01 (một) cửa ra vào diện tích 75 x 2,55m (02 cánh cửa giữa); 01 (một) tường xây tô có sơn nước diện tích 4,5m x 2m với số tiền là 2.300.000 đồng (bút lục 44-46).
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) tờ giấy A4 trong đó thể hiện nội dung mượn tiền giữa Võ Hoàng Q và Nguyễn Tiến L2 với số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 30/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án) (bút lục 336).
- 01 (một) cái ca màu vàng dùng để đựng sơn tạt vào nhà của người bị hại.
- 01 (một) đôi dép da, màu vàng, dài khoảng 16 cm.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream (xuất xứ Trung Quốc), màu nâu, biển số: 63S3–0770, số máy: VDES0139FMB034225, số khung: đã bị cà. Qua xác minh biển số: 63S3-0770 là biển số của xe mô tô nhãn hiệu Especial có số máy: VSA1P50FMG3003114, số khung: VASDCGSA do ông Lê Minh P1, nơi thường trú: Số A, Khu phố B, Phường A, thị xã G, tỉnh Tiền Giang đứng tên đăng ký. Ông P1 đã bán cho người khác (hiện không nhớ rõ thông tin người mua) (bút lục 98-99). Qua xác minh số máy: VDES0139FMB034225 không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả (bút lục 100).
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xr màu tím, số I: 357349046245014 (tạm giữ của Trần Minh C, điện thoại dùng để liên lạc với L2 và L).
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, số I: 357273099445225 (tạm giữ của Trần Minh C, điện thoại dùng để liên lạc cá nhân).
- 01 (một) USB ghi nhận lại hình ảnh vụ tạt sơn (kèm theo hồ sơ vụ án).
Trách nhiệm dân sự: gia đình bị hại Võ Hoàng Q không yêu cầu các bị can bồi thường (bút lục 145, 176 ).
Tại Bản cáo trạng số: 279/CT-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Minh C, Nguyễn Thanh L về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo C từ 09 tháng 01 năm tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị hại Võ Hoàng Q không yêu cầu các bị cáo bồi thường (bút lục 145, 176 ).
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, bản ảnh xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 16/12/2023, tại nhà số G, Tổ D, Khu phố D, phường T, Quận A, Trần Minh C và Nguyễn Thanh L cùng ý chí thực hiện hành vi tạt sơn màu đen, dạng lỏng pha với dầu ăn vào cửa cổng, sân, tường của căn nhà, gây hư hỏng tài sản của gia đình bị hại Võ Hoàng Q với chi phí khắc phục, sửa chữa, tẩy sửa trị giá 2.300.000 đồng. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Minh C và Nguyễn Thanh L phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự;
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của bị cáo:
Hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn các bị cáo thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Riêng bị cáo C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo C có nhân thân tốt bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự tại kho trạm kỹ thuật 719, Vùng 4 H2 quận, Quân chủng Hải quân từ tháng 02/2016 đến tháng 01/2018 nên áp dụng cho bị cáo C tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo L có 01 tiền án Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm 9 tháng về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 167/HSST ngày 09/12/2017. Chấp hành xong ngày 29/8/2023, đã đóng án phí và nộp lại số tiền do phạm tội mà có (bút lục 333-334) nên lần này bị cáo L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với việc C đề xuất với L2 sẽ đi tạt sơn nhà Q để gây sức ép nhằm mục đích ép Q trả tiền lãi hàng tháng cho đầy đủ, nhưng L2 không đồng ý. Tòa án nhân dân Quận 12 đã trả hồ sơ cho Viện Kiểm Sát Quận 12 điều tra bổ sung xem xét Nguyễn Tiến L2 có đồng phạm với C và L hay không?, Trần Minh C và đồng phạm có phạm tội cưỡng đoạt tài sản hay không?. Nhưng Viện Kiểm Sát nhân dân Quận 12 vẫn giữ nguyên quan điểm.
[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB ghi nhận lại hình ảnh vụ tạt sơn (kèm theo hồ sơ vụ án) và 01 (một) tờ giấy A4 trong đó thể hiện nội dung mượn tiền giữa Võ Hoàng Q và Nguyễn Tiến L2 với số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 30/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án) (bút lục 336).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái ca màu vàng dùng để đựng sơn tạt vào nhà của người bị hại; 01 (một) đôi dép da, màu vàng, dài khoảng 16 cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xr màu tím, số I: 357349046245014 (tạm giữ của Trần Minh C, điện thoại dùng để liên lạc với L2 và L).
- Trả lại cho bị cáo C 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, số I: 357273099445225 (tạm giữ của Trần Minh C, điện thoại dùng để liên lạc cá nhân).
- Giao cho cơ quan thi hành án: Tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream (xuất xứ Trung Quốc), màu nâu, biển số: 63S3–0770, số máy: VDES0139FMB034225, số khung: đã bị cà. Qua xác minh biển số: 63S3–0770 là biển số của xe mô tô nhãn hiệu Especial có số máy: VSA1P50FMG3003114, số khung: VASDCGSA do ông Lê Minh P1, nơi thường trú: Số A, Khu phố B, Phường A, thị xã G, tỉnh Tiền Giang đứng tên đăng ký. Ông P1 đã bán cho người khác (hiện không nhớ rõ thông tin người mua) (bút lục 98-99). Qua xác minh số máy: VDES0139FMB034225 không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả (bút lục 100). Kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo C phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại Võ Hoàng Q không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí hình sự các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Minh C 01 (một) năm tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Buộc bị cáo C phải nộp lại số tiền số tiền thu lợi bất chính là 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc bị cáo L nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB ghi nhận lại hình ảnh vụ tạt sơn (kèm theo hồ sơ vụ án) và 01 (một) tờ giấy A4 trong đó thể hiện nội dung mượn tiền giữa Võ Hoàng Q và Nguyễn Tiến L2 với số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 30/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án) (bút lục 336).
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái ca màu vàng dùng để đựng sơn tạt vào nhà của người bị hại; 01 (một) đôi dép da, màu vàng, dài khoảng 16 cm.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xr màu tím, số I: 357349046245014 (tạm giữ của Trần Minh C, điện thoại dùng để liên lạc với L2 và L).
- - Trả lại cho bị cáo C: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, số I: 357273099445225 (tạm giữ của Trần Minh C, điện thoại dùng để liên lạc cá nhân).
- - Giao cho cơ quan thi hành án: Tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream (xuất xứ Trung Quốc), màu nâu, biển số: 63S3–0770, số máy: VDES0139FMB034225, số khung: đã bị cà. Kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 244/QĐ-VKS, ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo C và L mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Triệu Thị Thùy Trang |
Bản án số 328/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "cố ý làm hư hỏng tài sản"
- Số bản án: 328/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
