TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 328/2024/HS-ST
Ngày: 24-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Phước Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Kim Hoa và ông Trần Quốc Đấu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Quý Thuyên - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 323/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 tại Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, điểm cầu thành phần Trại giam công an tỉnh N; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2024/QĐX XST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T
tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 20/9/1987; nơi sinh: huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên cha: Trần Huy Q, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Trần Thị S, sinh năm 1966; Anh chị em ruột: Có 03 người, Bị cáo là con thứ hai; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1987, (Đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2006, bị Ủy ban nhân dân tỉnh H buộc vào trường giáo dục 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản; Tiền án:
Ngày 30/8/2016, bị Toà án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 20/2016/HSST; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/01/2017; Ngày 30/5/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 190/2018/HSST; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/7/2019; Ngày 20/01/2021, bị Toà án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 17/2021/HSST; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/4/2023; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 05/7/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Trần Văn T gọi điện thoại hỏi mua của một người đàn ông tên M (không biết lai lịch, địa chỉ) 300.000 đồng ma tuý đá thì M đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực sân bóng phường H, thành phố V. Thống nhất xong, T bắt taxi đến điểm hẹn gặp và mua của M 01 gói ma tuý đá giá 300.000 đồng. Mua được ma tuý T đưa về nhà cất dấu để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ ngày 05/7/2024, T để gói ma tuý ở chiếc dép bên phải mà T đang đi rồi nhờ anh H (là bạn của T) chở sang Quảng trường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau đó, anh H đi về còn T bắt taxi của anh Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1983, trú tại khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An đi đến số C đường N, thuộc khối B, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An để lấy điện thoại. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày 05/7/2024, T đang ngồi trong xe taxi đi đến số C, đường N, thì bị lực lượng công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Do hoảng sợ, T đã lấy gói ma tuý bỏ vào mồm nhai thì bị lực lượng Công an khống chế yêu cầu T nhả gói ma tuý ra và thu giữ 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu tím, bên trong có găn 02 thẻ sim mang số thuê bao 0932465664 và 0385501214 đã qua sử dụng. Tổ công tác đã dẫn giải T cùng tang vật về trụ sở Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã thành lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại, xác định chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn T có khối lượng 0,190 gam, đã lấy 0,100 gam gửi giám định.Tại kết luận giám định số 757/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:“- Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn T gửi đến giám định là ma tuý; loại Methamphetamine. Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn T có khối lượng 0,190 gam (không phẩy một trăm chín mươi gam)”.
Việc thu giữ và xử lý vật chứng vụ án: 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong đúng quy định trong đó có 0,090 gam ma tuý Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định và vỏ giấy niêm phong, thu giữ của Trần Văn T. 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, có số imei 1: 86465004298775, số imei 2: 864650042987740, bên trong có găn 02 thẻ sim mang số thuê bao 0932465664 và 0385501214 đã qua sử dụng; hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Bản Cáo trạng số 330/CT-VKS-HS ngày 9 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo, tịch thu xung quỹ nhà nước một điện thoại di động; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố V đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 17 giờ 00 phút, ngày 05/7/2024, tại khu vực số C đường N, thuộc khối B, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T đang tàng trữ trái phép 0,190 gam (không phẩy một trăm chín mươi gam) ma tuý (Methamphetamine) để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường H bắt quả tang. Trần Văn T khai nhận mục đích cất giấu gói ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Trần Văn T phạm tội lần này thuộc trường hợp trước đó đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này là “Tái phạm nguy hiểm”, vì vậy phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[2.2]. Đánh giá tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ sức khỏe và nhận thức, đã từng nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội phạm ma túy, thấy được tác hại do ma túy mang lại cho con người và xã hội, nhưng bị cáo không phòng, tránh mà lại tiếp tục sa vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo HĐXX thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Vậy nên, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật để cải tạo tốt, sớm hòa nhập với cộng đồng xã hội, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo T tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập và công việc không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Trong vụ án này, đối với người đàn ông tên M đã bán ma tuý cho Trần Văn T do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với người đàn ông tên H là người đã chở Trần Văn T đi sang thành phố V để lấy điện thoại do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với anh Nguyễn Ngọc H1 là người đã lái xe taxi chở Trần Văn T, anh H1 không biết T cất dấu ma tuý nên không phạm tội.
[2.5]. Về vật chứng trong vụ án: Ma túy thu giữ của bị cáo Trần Văn T là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; . 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, có số imei 1: 86465004298775, số imei 2: 864650042987740, bên trong có găn 02 thẻ sim mang số thuê bao 0932465664 và 0385501214 đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn T là tài sản của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[2.6]. Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt Trần Văn T 5 (Năm) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Văn T; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại OPPO A3s thu giữ của bị cáo T; Vật chứng có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK 2025/15 ngày 17/10/2024.
-Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỒ PHƯỚC LINH |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 328/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 328/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Tú
