|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 328/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
- 2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1267/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 363/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Ngọc Bích V, sinh năm 1989.
Địa chỉ: 2, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Vũ L, sinh năm 1985.
Địa chỉ: B, tổ D, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Bùi Ngọc Bích V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Huỳnh Vũ L chung sống tự nguyện, có đăng kí kết hôn vào ngày 27/05/2013 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân ly hôn là do vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt trong suy nghĩ và quan điểm sống, nên thường xuyên gây gổ, cãi vã nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng xa cách. Từ năm 2023, ông L đã dọn đồ về nhà cha mẹ ruột ở riêng, vợ chồng bắt đầu mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm nhau, gần gũi nhau nữa. Đến nay thì có thể nói mối quan hệ vợ chồng đã thực sự đổ vỡ. Bà và ông L đã nhiều lần níu kéo, hàn gắn mối quan hệ hôn nhân của mình, nhưng nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, việc kéo dài cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc chỉ làm các bên thêm đau khổ và ràng buộc. Vì vậy, nay bà làm đơn yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông L.
Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông L có 02 con chung tên Huỳnh Vũ Hoàng T, sinh ngày 04/09/2013 và Huỳnh Vũ Thiên Â, sinh ngày 09/09/2019. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc và giáo dục hai con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Huỳnh Vũ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông L.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà V, ông L không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà V yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Về con chung: Giao hai con chung tên Huỳnh Vũ Hoàng T, sinh ngày 04/09/2013 và Huỳnh Vũ Thiên Â, sinh ngày 09/09/2019 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Do chưa có lời khai của ông L nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu. Về án phí: Bà V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà V yêu cầu được ly hôn với ông L. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”; bà Bùi Ngọc Bích V là nguyên đơn, ông Huỳnh Vũ L là bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Huỳnh Vũ L hiện đang cư trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[3] Về thủ tục tố tụng: Bà V có đơn xin xét xử vắng mặt, ông L đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà V, ông L theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Ngọc Bích V và ông Huỳnh Vũ L kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Từ khi hai vợ chồng bà kết hôn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong vấn đề cuộc sống. Bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay cả hai đã sống ly thân, bà V xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông L.
Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông L đến Tòa làm việc nhưng ông L chỉ đến Tòa án trình bày miệng ý kiến của mình, hẹn sẽ cung cấp bản tự khai cho Tòa án nhưng sau đó không cung cấp bản tự khai, không đồng ý ký vào các biên bản ghi nhận ý kiến của Tòa án thể hiện việc ông L không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà V. Qua kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường B thể hiện địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà V và ông L.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà V và ông L là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V, giải quyết cho bà V được ly hôn với ông L để trả tự do cho cả hai là phù hợp.
[5] Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Vũ Hoàng T, sinh ngày 04/09/2013 và Huỳnh Vũ Thiên Â, sinh ngày 09/09/2019. Ly hôn, bà V đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai cháu T cũng có nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Ông L không trình bày ý kiến của mình về vấn đề con chung. Do đó cần giao 02 con chung cho bà V trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của con chung và cũng để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dạy trẻ. Tạm thời, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông L nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[7] Về án phí: Bà V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng vào Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Ngọc Bích V. Bà Bùi Ngọc Bích V được ly hôn với ông Huỳnh Vũ L.
- 2. Về con chung: Giao 2 con chung tên Huỳnh Vũ Hoàng T, sinh ngày 04/09/2013 và Huỳnh Vũ Thiên Â, sinh ngày 09/09/2019 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- 3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
- 4. Về án phí: Bà Bùi Ngọc Bích V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà V đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003754 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà V đã nộp xong án phí.
Các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thúy |
Bản án số 328/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 328/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vân - Lai
