Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN


Bản án số: 328/2024/DS-PT

Ngày: 05-8-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Vào ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 329/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 318/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1951 (đã chết ngày 07/7/2023).

    Địa chỉ: Ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

    Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H gồm:

    1. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1955.
    2. Ông Ngô Văn N, sinh năm 1977.
    3. Ngô Văn V, sinh năm 1985.
    4. Ngô Thị N1, sinh năm 1982.
    5. Bà Ngô Thị T, sinh năm 1987.

    Cùng địa chỉ: Ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

    1. Bà Ngô Thị N2, sinh năm 1979.

    Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo uỷ quyền của ông N, bà N2: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (theo Giấy uỷ quyền ngày 13/3/2024 và Giấy uỷ quyền ngày 21/3/2024).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N3, sinh năm 1975.

    Địa chỉ HKTT: Khu phố A, phường A, thị xã K, tỉnh Long An.

    Địa chỉ nơi ở hiện nay: Ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N3: Ông Trần Văn C, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số H, đường L, phường D, thành phố T, tỉnh Long An (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 28/12/2020).

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1955.

      Địa chỉ: Ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

    2. Ủy ban nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.

      Địa chỉ trụ sở: Đường C T, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng N3.

(Các đương sự có mặt; Ủy ban nhân dân thị xã K

có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Văn H và lời trình bày của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau:

Thửa đất số 480, diện tích 8.630m² của ông Ngô Văn H và thửa 479 diện tích 4.783m² của bà Nguyễn Thị Hồng N3, cùng tờ bản đồ số 8, toạ lạc tại ấp G, xã B, thị xã K có vị trí tiếp giáp nhau.

Thửa đất số 480 có nguồn gốc của ông bà, cha mẹ để lại cho ông Ngô Văn H. Việc cho đất bằng lời nói vì trước đó chưa ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu qua kê khai, không đo đạc (cấp năm nào không nhớ). Đến năm 2014 ông H bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên làm thủ tục cấp lại cũng theo hồ sơ cũ cũng không đo đạc thực tế.

Thửa đất số 479 theo ông H biết có nguồn gốc của bà Ngô Thị V1 (mẹ ông Đặng Văn T1) để lại cho ông T1 là chồng bà Nguyễn Thị Hồng N3, ông T1 chết nên bà N3 nhận thừa kế.

Trước đây ranh đất giữa thửa số 480 với thửa 479 có hàng tre do ông bà của ông H trồng từ trước 1975, cách đây hơn 10 năm gia đình ông H phá bỏ tre, bên ông T1 cũng phá 01 bụi tre mỡ phía trước. Ngoài ra còn có cột mốc bằng xi măng nhưng ai nhổ bỏ không biết. Sau khi cột xi măng và tre bị phá bỏ thì các bên phát sinh tranh chấp.

Trên đất tranh chấp tính từ Quốc lộ F trở vào thì trước đây ông H trồng cỏ nhưng bà N3 xịt thuốc không cho, tại đây bà N3 có trồng một số cây mía, xoài cách nay mấy năm; ngoài ra còn có một đoạn mương do ông T1 (chồng bà N3) đào cách nay hơn 20 năm để ngăn không cho tre mọc lấn qua đất ông T1. Phía cuối đất có một bờ đất do ông H đắp cách nay khoảng 20 năm (bờ đất rộng hơn 03m), ông H trồng chuối trên mí bờ phía ao của ông H từ khi đắp bờ đến nay, bờ đất ngăn cách một bên là hầm nước trên đất của bà N3 với một bên là ao nuôi cá trên đất của ông H, hầm nước bên đất bà N3 là do ông Đặng Văn K (anh trai của ông T1) móc cách nay hơn 20 năm để lấy đất bán, khi đào có lấn qua đất ông H nhưng vì là bà con nên ông H chỉ ý kiến hỏi sao lấn qua chứ không báo chính quyền địa phương giải quyết; phần đất tranh chấp nằm trên một phần bờ đất giáp ao của ông H, có chuối ông H trồng trên mí bờ ao.

Trước đây, bà N3 có bán một phần của thửa đất số 479 (vị trí bán không giáp đất của ông H) và nhờ ông H ký giáp ranh nên ông H có ký, về chứng cứ thì không có.

Theo yêu cầu khởi kiện ban đầu ông H xác định phần đất tranh chấp với bà N3 gồm phần A1 diện tích 379m² và phần B1 diện tích 219m². Tuy nhiên vì phần đất được cấp vào thửa số 480 cho ông H chỉ là 379m² nên ông H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N3 trả diện tích đất 379m², thuộc một phần thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8 (khu A1 theo Mảnh trích đo địa chính số 283-2022 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 25/11/2022). Ông H không tranh chấp các phần đất tại khu B, A2, A3.

Ngày 07/7/2023 ông Ngô Văn H chết, ông H có vợ là bà Võ Thị H1, có các con gồm Ngô Văn N, Ngô Thị N2, Ngô Thị N1, Ngô Thị T và Ngô Văn V; ngoài ra ông H không còn người con nào khác; cha mẹ của ông H đều đã chết trước ông H.

Nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H gồm bà Võ Thị H1, Ngô Văn N, Ngô Thị N2, Ngô Thị N1, Ngô Thị T và Ngô Văn V vẫn tiếp tục với yêu cầu khởi kiện của ông H. Hiện nay thửa đất số 480 không thế chấp, cầm cố hay dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nào khác.

Đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Hồng N3: bà H1, ông N, bà N2, bà T, bà N1 và ông V không đồng ý vì phần đất này được cấp vào giấy của ông H.

Các ông bà không yêu cầu định giá lại tài sản, về giá trị cây chuối trên bờ đất tranh chấp có giá trị không lớn nên không yêu cầu xem xét giá trị.

Bị đơn phản tố bà Nguyễn Thị Hồng N3 và người đại diện theo uỷ quyền là ông Trần Văn C trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, cụ thể như sau:

Thửa đất số 479, tờ bản đồ số 8 tại ấp G, xã B, thị xã K có nguồn gốc của cha mẹ ông Đặng Văn T1 để lại cho ông T1, ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 2000 bà N3 kết hôn với ông T1 và về sống chung trên thửa đất số 479. Năm 2004 ông T1 chết, bà N3 vẫn sống trên đất đến năm 2011 bà N3 nhận thừa kế và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguyên thửa theo giấy tờ (không đo đạc đất).

Trước đây, bà N3 có ý định bán một phần thửa đất số 479 vị trí tiếp giáp đất của ông H nhưng vì ông H không thống nhất ranh nên bà đã bán đất ở vị trí khác không giáp đất ông H nên từ trước đến nay ông H không ký biên bản giáp ranh đất với bà.

Ranh đất của thửa 479 với thửa 480 trước đây có hàng tre của ông H trồng, ngoài ra còn có trụ xi măng. Sau đó ông H đã thuê máy ủi múc hết tre và nhổ cột mốc xi măng nên hiện nay không còn. Khi ông H phá bỏ tre, bà N3 không đồng ý nên qua phản đối nhưng bên ông H vẫn làm.

Cách nay hơn 20 năm, ông T1 có đào một đường mương trên đất của ông T1 giáp với hàng tre của ông H, hiện nay mương vẫn còn trên phần đất tranh chấp, bà N3 sử dụng để thoát nước sinh hoạt.

Về hiện trạng đất từ Quốc lộ F trở vào thì phần tranh chấp tại đoạn đầu và đoạn giữa trước đây thường xuyên bị ngập nước nên bà N3 chỉ trồng rau, sau này bà N3 bồi đắp dần dần nên đã trồng mía, xoài (thời điểm trồng từ trước khi ông H khởi kiện), hiện nay xoài và mía vẫn còn, ở đây có một đoạn mương do ông T1 đào cách nay hơn 20 năm. Ngoài ra còn có gốc tràm (tràm của ông T1 trồng từ trước năm 2004, cách nay hơn 05 năm ông H qua năn nỉ bà N3 xin chặt cây để rễ không ăn qua khu nhà mồ của ông H gần đó nên bà N3 đồng ý cho chặt). Trước đây khi bà N3 vắng nhà thì ông H có lấn trồng cỏ nhưng bà ngăn cản không cho. Mía trên đất có giá trị không lớn nên không yêu cầu xem xét giá trị.

Hiện trạng phần tranh chấp ở cuối thửa đất nằm trên một phần bờ đất, hiện trạng bờ đất rộng khoảng hơn 03m ngăn cách hầm nước bên thửa đất 479 của bà N3 với hầm nuôi cá bên thửa 480 của ông H. Phần tranh chấp từ dưới lên theo mảnh trích đo có chiều ngang 01m giáp ao của ông H, ông H có trồng chuối ở đây. Hầm nước trên thửa 479 của bà N3 (cuối thửa đất) là do trước đây anh em của ông T1 đào để lấy đất mang đi nơi khác đắp nền, bờ đất hình thành từ khi đó.

Phần đất mà ông H đang khởi kiện là đất của bà N3 nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H. Bà N3 có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án xác định quyền sử dụng đất diện tích 379m², thuộc một phần thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8 (thể hiện tại khu A1 theo Mảnh trích đo địa chính số 283-2022) thuộc quyền sử dụng của bà N3. Yêu cầu xem xét điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H đối với phần đất tranh chấp thuộc thửa số 480.

Đối với phần đất tại các vị trí B1, A2, A3 bà N3 không có tranh chấp. Tại phiên toà sơ thẩm, không yêu cầu định giá lại tài sản.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa như sau: Bà H1 là vợ ông Ngô Văn H, quyền sử dụng đất thửa số 480, tờ bản đồ số 8 toạ lạc ấp G, xã B là tài sản của chung vợ chồng bà. Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện và phần trình bày của ông H trong quá trình giải quyết vụ án. Tháng 7/2023 ông H mất, nay những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông H vẫn tiếp tục giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trình bày của ông H, ngoài ra bà H1 không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã K vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến như sau: Bà Nguyễn Thị Hồng N3 yêu cầu huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 379m² thuộc thửa số 480, tờ bản đồ số 8 đã cấp cho ông Ngô Văn H là hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện M trong việc cấp giấy chứng nhận, do đó đề nghị Toà án chuyển nội dung khởi kiện này đến Toà hành chính Toà án nhân dân tỉnh để xem xét giải quyết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 166, 170, 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Hồng N3.

    Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N3 có trách nhiệm giao quyền sử dụng đất diện tích 379m² và cây trồng (03 cây xoài) thuộc thửa đất số 480 tờ bản đồ số 8 toạ lạc xã B, thị xã K cho ông Ngô Văn H (có những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Ngô Văn H gồm bà Võ Thị H1, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị N2, bà Ngô Thị N1, bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn V). Phần đất ký hiệu tại khu Al theo Mảnh trích đo địa chính số 283-2022 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 25/11/2022 có tứ cận như sau:

    Phía Đông tiếp giáp thửa số 480 (mpt) dài 01m;

    Phía Tây tiếp giáp Quốc lộ F dài 4,4m;

    Phía Nam tiếp giáp thửa số 480 (mpt) dài 140,6m;

    Phía Bắc tiếp giáp thửa số 479 dài 140,4m.

    Buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Ngô Văn H gồm bà Võ Thị H1, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị N2, bà Ngô Thị N1, bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn V có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hồng N3 số tiền 127.100.000 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).

    Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Hồng N3 về yêu cầu xác định cho bà N3 được quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 379m² tại khu A1 (theo mảnh trích đo địa chính số 283-2022).
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Ngô Văn H phải chịu 20.649.000 đồng; bà N3 phải 14.000.000 đồng, các đương sự đã nộp xong.
  4. Về án phí: Ông Ngô Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng N3 được miễn nộp tạm ứng án phí và miễn án phí.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 24/5/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N3 kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng công nhận quyền sử dụng đất cho bà N3, bà không đồng ý nhận tiền, bà yêu cầu tiến hành định giá lại tài sản tranh chấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày: Phần đất diện tích 309,5m² khu A (1) theo Mảnh trích đo địa chính số 16-2024 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 09/4/2024 thuộc quyền sử dụng đất của bà N3 sử dụng, nhưng theo ranh bản đồ thuộc quyền sử dụng đất của ông H, nên nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bà N3 giá trị đất với số tiền 160.000.000 đồng, bà N3 giao lại cho nguyên đơn phần đất này để sử dụng.

Bị đơn trình bày: Phần đất diện tích 309,5m² khu A (1) theo Mảnh trích đo địa chính số 16-2024 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 09/4/2024 thuộc quyền sử dụng đất của bà, nhưng theo ranh bản đồ thuộc quyền sử dụng đất của ông H, nên bà đồng ý nhận giá trị đất với số tiền 160.000.000 đồng, bà N3 sẽ giao lại cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn phần đất này để sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được nội dung giải quyết vụ án cụ thể: Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn H đồng ý trả lại tiền giá trị đất là 160.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Hồng N3, bà N3 đồng ý nhận tiền và giao phần đất tranh chấp cho nguyên đơn sử dụng. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, cần công nhận sự thỏa thuận này, căn cứ Điều 300, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng N3 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thị xã K, tỉnh Long An đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Ủy ban.
  3. Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

    Nguyên đơn ông Ngô Văn H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N3 phải trả lại phần đất có diện tích 379 m² thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8, toạ lạc xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

    Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần đất có diện tích 309,5m², buộc bị đơn giao đất cho nguyên đơn sử dụng, nguyên đơn thanh toán giá trị đất cho bị đơn tương ứng với phần diện tích đất được chấp nhận là 309,5m². Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận quyền sử dụng đất cho bà N3, bà không đồng ý nhận tiền. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

  4. Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng N3, thấy rằng:
    1. Ông Ngô Văn H có thửa đất 480, diện tích 8.630m², tờ bản đồ số 8, toạ lạc tại ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

      Bà Nguyễn Thị Hồng N3 có thửa đất 479, diện tích 4.783m², tờ bản đồ số 8, toạ lạc tại ấp G, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

      Nguyên đơn ông Ngô Văn H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N3 trả quyền sử dụng đất phần đất có diện tích 379m², thuộc một phần thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp G, xã B (khu A theo Mảnh trích đo địa chính số 283-2022) vì cho rằng phần đất trên ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn bà N3 không đồng ý.

    2. Xét về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

      Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thông tin của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K cung cấp thể hiện thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1998 cho ông Ngô Văn H theo Quyết định số 238/QĐ.UB ngày 26/6/1998 của UBND huyện M, việc cấp giấy đại trà qua phong ảnh bản đồ năm 1997, không đo đạc thực tế. Ông H 02 lần bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã làm thủ tục và được cấp lại giấy lần lượt vào năm 2014, năm 2019 cũng theo diện tích đã được cấp năm 1998 là 8.630m² (chưa có biến động về diện tích).

      Thửa đất số 479, tờ bản đồ số 8 cấp lần đầu cho ông Đặng Văn T1 năm 2003, việc cấp giấy qua kê khai, không đo đạc thực tế, năm 2011 bà Nguyễn Thị Hồng N3 nhận thừa kế quyền sử dụng đất thửa số 479 cũng không qua đo đạc mà dựa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

      Xét thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 480, thửa 479 đều không qua đo đạc thực tế nên không thể căn cứ vào diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xem xét. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, kết quả xem xét thẩm định hiện trạng đất để xem xét là phù hợp.

    3. Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất:

      Các đương sự trình bày thống nhất thửa đất số 480 của cha mẹ ông H cho ông H, thửa số 479 của cha mẹ ông Đặng Văn T1 để lại cho ông T1. Việc cha mẹ cho đất không làm văn bản giấy tờ thể hiện rõ diện tích cũng như ranh giới đất, sau khi ông T1 chết, năm 2011 bà Nguyễn Thị Hồng N3 nhận thừa kế thửa đất số 479.

      Thửa đất số 480 được ông H và vợ bà Võ Thị H1 sử dụng từ trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay. Thửa đất số 479 do ông Đặng Văn T1 sử dụng, khoảng năm 2000 bà Nguyễn Thị Hồng N3 kết hôn với ông T1 về sống chung và cùng sử dụng thửa đất 479, sau đó ông T1 chết bà N3 tiếp tục sử dụng cho đến nay. Năm 2012 bà N3 chuyển nhượng một phần thửa 479 cho bà Thái Thị Bạch Y, bà Nguyễn Thị N3, vị trí đất chuyển nhượng không tiếp với với thửa đất 480 của ông Ngô Văn H.

      Đương sự thống nhất trình bày về ranh đất giữa thửa 480 và thửa 479 trước đây có hàng tre của gia đình ông H trồng và có cột mốc xi măng, cách nay hơn 10 năm ông H đã phá bỏ tre. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện nay tre không còn, cột mốc xi măng mà các bên trình bày cũng không còn. Do đó, giữa thửa đất số 480 và thửa 479 hiện nay không còn ranh đất trên thực tế. Ngoài ra, các bên cũng thống nhất cách nay hơn 20 năm (khi ông T1 còn sống) có đào một đường mương bên đất của ông T1 giáp với hàng tre, hiện nay vẫn còn dấu tích và thuộc phần đất đang tranh chấp.

    4. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án thì hiện trạng toàn bộ phần đất tranh chấp có diện tích là 379m² ký hiệu khu Al theo mảnh trích đo địa chính số 283-2022 như sau:

      Phần đất tranh chấp từ Quốc lộ F trở vô, bà N3 có trồng một số bụi mía, tiếp đến trồng xoài, tại đây có gốc tràm mục (tràm đã bị chặt) và đoạn mương nước của ông T1 đào cách nay hơn 20 năm.

      Ông H và bà N3 thống nhất trình bày gốc tràm trên đất tranh chấp là do ông H chặt cách nay hơn 05 năm, sau khi chặt thì bà N3 không cho lấy cây. Ông H và người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông H cho rằng tràm là của cha mẹ ông H trồng nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh; ngược lại bà N3 cho rằng tràm của ông T1 (chồng của bà N3) trồng, người làm chứng bà Đặng Huỳnh Thu V2 khai vào trước năm 2000 ông T1 có trồng một số cây tràm lanh trên đất của ông T1 tại vị trí gần sát với hàng tre của ông Út L (tên thường gọi của ông H), như vậy phần trình bày của bà N3 là có căn cứ.

      Phần đất tranh chấp còn lại cuối thửa đất là một phần của bờ đất phía tiếp giáp với ao nuôi cá của ông H, trên phần này có một số bụi chuối của ông H trồng. Xét thấy, bà N3 từ trước đến nay không sử dụng phần bờ đất này, phía bên thửa đất 479 có hầm đất do anh em ông T1 móc lấy đất bán từ trước khi bà N3 về sinh sống tại đây nên việc bà N3 trình bày những người này đắp bờ là không hợp lý, bà N3 cũng không chứng minh được bờ đất này do bà N3 hay của chồng bà N3 bồi đắp.

      Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hiện trạng sử dụng thực tế của các bên để yêu cầu cơ quan đo đạc là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K bổ sung nội dung mảnh trích đo chia phần đất tranh chấp A1 diện tích 379m² thành hai phần là khu A1(1) diện tích 309,5m² theo hiện trạng bị đơn bà N3 đang sử dụng; khu A1(2) diện tích 69,5m² là một phần bờ đất phía giáp ao của ông H, ông H sử dụng trồng chuối là phù hợp (phân khu theo Mảnh trích đo địa chính số 16-2024 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K ký duyệt ngày 09/4/2024).

    5. Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp 379m² nguyên đơn chỉ có căn cứ chứng minh được phần đất có diện tích 69,5m² khu A1 (2) là một phần bờ đất thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn nên chấp nhận đối với phần này.

      Riêng phần đất diện tích 309,5m² khu A (1), nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất là của nguyên đơn mà chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu bà N3 trả là không đủ căn cứ vì diện tích cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không qua đo đạc thực tế. Tuy nhiên, qua kiểm tra xác minh thì phần diện tích đất 309,5m² đã được cơ quan nhà nước cấp vào số thửa đất 480 có mục đích sử dụng là loại đất BHK (đất trồng cây hàng năm khác), trong khi thửa đất số 479 cấp cho bà N3 có mục đích sử dụng là loại đất CLN (đất trồng cây lâu năm). Căn cứ theo quy định của pháp luật đất đai, căn cứ Công văn số 216/CNVPĐKĐĐ ngày 25/3/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K cung cấp do đất không có cùng mục đích sử dụng nên phần đất này (309,5m²) không đủ điều kiện để điều chỉnh cấp vào số thửa 479 cho bà Nguyễn Thị Hồng N3. Mặt khác diện tích 309,5m² cũng không đủ điều kiện để tách thành thửa mới theo Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L. Do đó, để bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hồng N3 và phù hợp theo quy định của pháp luật đất đai, bảo đảm bản án được thi hành án, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận cho nguyên đơn được sử dụng phần đất này và buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại giá trị đất cũng như tài sản trên đất cho bà N3 theo giá mà các bên đã thống nhất là 309,5m² x 400.000 đồng/m² = 123.800.000 đồng, giá trị cây trồng gồm 03 cây xoài là 3.300.000 đồng. Tổng thành tiền phải thanh toán là 127.100.000 đồng.

  5. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần đất có diện tích 69,5m² (khu A (2)) thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn, phần đất có diện tích 309,5m² (khu A (1)) thuộc quyền sử dụng đất của bị đơn, bị đơn giao cho nguyên đơn được quyền sử dụng đất nên nguyên đơn có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn số tiền 127.100.000 đồng.

    Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thống nhất thỏa thuận như sau:

    Phần đất diện tích 309,5m² khu A (1) theo Mảnh trích đo địa chính số 16-2024 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 09/4/2024 thuộc quyền sử dụng đất của bà N3 sử dụng, nhưng theo ranh bản đồ thuộc quyền sử dụng đất của ông H, nên nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bà N3 giá trị đất tương ứng 309,5m² với số tiền 160.000.000 đồng, bà N3 giao lại cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H phần đất này để sử dụng.

    Phần đất có diện tích 69,5m² (khu A (2)) thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn ông Ngô Văn H, nguyên đơn được tiếp tục sử dụng.

    Thấy rằng, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

  6. Xét thấy, kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng N3 có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  8. Về chi phí tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm: Ông Ngô Văn H phải chịu 20.649.000 đồng; bà N3 phải 14.000.000 đồng, các đương sự đã nộp xong.
  9. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các đương sự phải chịu án phí theo quy định, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ngô Văn H có đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí và án phí với lý do là người cao tuổi; bà Nguyễn Thị Hồng N3 có đơn đề nghị được miễn tạm ứng án phí, án phí lý do thuộc hộ nghèo nên các đương sự được miễn theo Điều 12 nghị quyết 326.
  10. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Nguyễn Thị Hồng N3 án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng N3.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 166, 170, 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận giữa những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn ông Ngô Văn H và bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N3 về tranh chấp quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
    1. Bà Nguyễn Thị Hồng N3 có trách nhiệm giao cho ông Ngô Văn H (có những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Ngô Văn H gồm bà Võ Thị H1, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị N2, bà Ngô Thị N1, bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn V) phần đất có diện tích 309,5m² (khu A (1)) thuộc một phần thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8 toạ lạc xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

      Ông Ngô Văn H (có những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Ngô Văn H gồm bà Võ Thị H1, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị N2, bà Ngô Thị N1, bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn V) được quyền sử dụng phần đất có diện tích 309,5m² (khu A (1)) thuộc một phần thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8 toạ lạc xã B, thị xã K, tỉnh Long An và được quyền sở hữu các tài sản có trên đất.

    2. Ông Ngô Văn H (có những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Ngô Văn H gồm bà Võ Thị H1, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị N2, bà Ngô Thị N1, bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn V) được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 69,5m² khu A1 (2) thuộc một phần thửa đất số 480, tờ bản đồ số 8 toạ lạc xã B, thị xã K, tỉnh Long An.
    3. Phần đất ký hiệu tại khu A1 (1) và khu A (2) theo Mảnh trích đo địa chính số 16-2024 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K, tỉnh Long An ký duyệt ngày 09/4/2024.
    4. Chậm nhất vào ngày 05/9/2024, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Ngô Văn H gồm bà Võ Thị H1, ông Ngô Văn N, bà Ngô Thị N2, bà Ngô Thị N1, bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn V có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng N3 giá trị phần đất có diện tích 309,5m² với số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

      Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với diện tích thực tế sử dụng.

    Văn phòng đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với kết quả giải quyết của vụ án.

  3. Về chi phí tố tụng: Ông Ngô Văn H phải chịu 20.649.000 đồng, bà N3 phải 14.000.000 đồng, các đương sự đã nộp xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn cho ông Ngô Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng N3 án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Nguyễn Thị Hồng N3 án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND thị xã Kiến Tường;
  • - Chi cục THADS thị xã Kiến Tường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 328/2024/DS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 328/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger