|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 328/2024/DSPT Ngày: 01 - 8 - 2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng thuê nhà |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan | |
| Các Thẩm phán: | Bà Võ Bích Hải; |
| Ông Nguyễn Văn Hải. | |
|
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà. |
|
Trong các ngày 31 tháng 7 và ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 554/2023/TLPT- DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng thuê nhà”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS - ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ô Môn bị nguyên đơn, bị đơn kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 54/2024/QĐPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lý H, sinh năm 1965; địa chỉ: Số E, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Lý Kim H1, sinh năm 1961; địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bà Nguyễn Hà Ái T, sinh năm 1993; (vắng mặt)
- Ông Phạm Quang N, sinh năm 1994; (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban Nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Lý H, bà Lý Kim H1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Đỗ Vinh Q sinh năm 1950 là Luật sư thuộc Văn phòng L; địa chỉ: 2 khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền:
Cùng địa chỉ: B, đường A, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc của thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56 toạ lạc tại tỉnh lộ 922, KV5, phường C, quận Ô, Tp Cần Thơ là của mẹ ruột ông là bà Dương Kim H2, sinh năm 1926. Sau khi được Toà án Nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm bằng Bản án số 120 ngày 29/5/2018 thì ông đã thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định. Quá trình sử dụng đất là trước khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông đã quản lý sử dụng phần đất này (phần số 23 theo bản trích đo địa chính số 09 ngày 02/12/2013 của TTKTTNMT TPCT, nay là thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56) từ năm 1993, khi đó ông đã tiến hành san lắp nền, có lót gạch Tàu, sau đó thì chị ông là bà Lý Kim H1 mượn đất để cất nhà bán tạp hoá, bà H1 cất nhà bán tạp hoá từ năm 1993 đến khoảng năm 2017 thì cho ông thuê lại với giá 6.000.000 đồng/tháng. Nay nhận thấy ông được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56 và dựa vào Tờ thoả thuận ngày 10/6/2012 thì ông có quyền sử dụng phần đất này nên nay ông yêu cầu bà H1 phải giao trả lại phần đất thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56 cho ông. Ông sẽ trả lại phần giá trị nhà trên đất cho bà H1.
Đối với yêu cầu của bà H1 về việc buộc ông trả tiền thuê nhà là 6.000.000 Đồng/ tháng từ ngày 13/8/2021 đến khi xét xử thì ông không đồng ý vì phần đất là thuộc quyền sử dụng đất của ông, nên căn nhà bà H1 đang tồn tại trái phép trên đất của ông nên ông không đồng ý trả tiền.
Bị đơn trình bày: Nguồn gốc của thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56 toạ lạc tại tỉnh lộ 922, KV5, phường C, quận Ô, Tp Cần Thơ là của mẹ ruột bà là bà Dương Kim H2, sinh năm 1926 cho lại bà H1. Sau khi được Toà án Nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm bằng Bản án số 120 ngày 29/5/2018 thì bà phát hiện ông Lý H đã đi đăng ký đối với phần đất bà đang sử dụng. Trước đây, khoảng năm 1993 bà sinh sống tại phần đất số 24 theo bản trích đo địa chính số 09 ngày 02/12/2013 của TTKTTNMT TPCT, sau đó ông Lý H lấy vợ nên bà đã nhường phần đất tại thửa 24, dời qua thửa số 23 theo bản trích đo địa chính số 09 ngày 02/12/2013 của TTKTTNMT TPCT (nay là thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56) để cất nhà ở và bán tạp hoá, tại thời điểm bà cất nhà trên thửa đất số 224 vào năm 1993 ông H không có đất tại KV5, phường C đến nay, ông H cho rằng tôi cất nhà trên đất ông H là không đúng. Nay bà yêu cầu phản tố là huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H và công nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56 cho bà H1, đồng thời buộc ông H trả tiền thuê nhà còn thiếu từ tháng 14/8/2021 đến khi ông H trả lại nhà là 6.000.000 đồng/tháng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS - ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Giao căn nhà của bà Lý Kim H1 cho ông Lý H. Ông Lý H có nghĩa vụ trả cho bị đơn số tiền 780.000.000 đồng (bảy trăm tám mươi triệu đồng) giá trị thửa đất 224 và 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) giá trị căn nhà của bà Lý kim H3 cất trên thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56 toạ lạc tại khu vực 4, phường C, quận Ô, Tp Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự, chi phí tố tụng; án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 29/09/2023 ông Lý H có đơn kháng cáo đến ngày 10/10/2023 ông H có đơn kháng cáo bổ sung. Ngày 20/09/2023 bà Lý Kim H1 có đơn kháng cáo đối với bản án nêu trên.
Tại phiên toà, các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và kháng cáo bổ sung về việc yêu cầu nguyên đơn trả tiền thuê nhà từ ngày hết hạn thuê nhà đến khi xét xử phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp: Phần đất tranh chấp có diện tích 82,2m² thửa 224 có nguồn gốc đất là của bà Dương Kim H2 (mẹ ruột của nguyên đơn và bị đơn), theo Bản trích đo địa chính số 09/TTKTTNMT ngày 02/12/2013 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường thành phố C là vị trí 23, tọa lạc khu vực 5, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Phần đất này có nguồn gốc là của ông Dương S và bà Dương Thị H4 (cha mẹ bà Dương Kim H2) thuộc bằng khoán điền thổ số 800, có diện tích ban đầu là 5.280m². Sau khi ông S và bà H4 chết, Ngày 01/8/1991, những người em của bà H4 lập giấy ủy quyền cho bà Dương Kim H2 thừa hưởng trọn số đất cha mẹ để lại.
Năm 1976, Ủy ban nhân dân huyện Ô thu hồi và quản lý toàn bộ diện tích đất nêu trên, giao cho Phòng T2 sử dụng.
Năm 1977, Ủy ban nhân dân huyện Ô giao Ban quản trị bến xe huyện Ô và Công ty X một phần đất. Lúc này có nhiều hộ dân chiếm cất nhà ở. Đối với phần đất giao Ban quản trị bến xe, khi không còn sử dụng thì các hộ dân chiếm dụng; trong đó, có nguyên đơn là ông Lý H và bị đơn bà Lý Kim H1 (con bà H2) tự chiếm đất cất nhà ở.
Ngày 24/02/1992, Ủy ban nhân dân huyện Ô ban hành Quyết định số 156/QĐ.UBH.92 có nội dung, giao Công an huyện Ô1 bồi hoàn hoa lợi ruộng đất cho bà H2 diện tích 2.270m²; Ban quản trị bến xe Ô trả hoa lợi ruộng đất cho bà
H2, diện tích 816m²; Công an huyện Ô1 đã trả hoa lợi cho bà H2 xong, Ban quản trị bến xe thời điểm này đã giải tán nên chưa trả hoa lợi cho bà H2.
Ngày 24/02/1992, Ủy ban nhân dân huyện Ô ban hành quyết định số 155/QĐ.UBH.92 có nội dung, giao quyền sử dụng đất cho bà H2 diện tích 1.799m² (phần đất còn lại bị các hộ dân chiếm dụng). Việc giao đất cho bà H2 theo Quyết định này không thực hiện được và phần đất Ban quản trị bến xe quản lý đã giải thể các hộ dân tự lấn chiếm, mua bán cất nhà ở trên phần đất này chưa được xem xét giải quyết.
Ngày 24/01/2003, Ủy ban nhân dân huyện Ô ban hành Quyết định số 199/2003/QĐ-UB có nội dung: thu hồi Quyết định số 155/QĐ- UBH ngày 24/02/2002 của UBND huyện Ô; điều chỉnh, hủy bỏ một phần Quyết định số 156/QĐ-UBH ngày 24/02/1992, về việc bồi hoàn hoa lợi ruộng đất cho bà Dương Kim H2; bà H2 không đồng ý nên tiếp tục khiếu nại.
Ngày 11/7/2003, Ủy ban nhân dân huyện Ô ban hành Quyết định số 1819/QĐ-CT.UB có nội dung: bác khiếu nại của bà H2 và ông H yêu cầu thực hiện 02 quyết định 155 và 156; giữ y quyết định 199, bà H2 tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh C
Ngày 18/6/2010, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1618/QĐ-UBND thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 199 ngày 24/01/2003 và Quyết định số 1819 ngày 11/7/2003 của UBND huyện Ô, giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Ô hướng dẫn phía bà H2 khởi kiện tại Tòa án.
Như vậy đến năm 2010 thì phần đất tranh chấp và tiền bồi hoàn hoa lợi mà Ủy ban nhân dân huyện Ô giao cho bà H2 theo Quyết định số 155/QĐ.UBH.92 ngày 24/02/1992 và theo Quyết định số 156/QĐ.UBH.92 ngày 24/02/1992 chưa xác định là của bà H2, nên Ủy ban nhân dân huyện Ô đã hướng dẫn cho bà H2 khởi kiện ra Tòa án. Đến khi Bản án phúc thẩm số 120/2018/DS-PT ngày 29/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ có hiệu lực thì mới xác định phần đất tranh chấp là của bà H2.
Nhưng ngày 10/6/2012, ông Lý Búp P, bà Lý Kim H1, ông Lý H5, bà Lý Thị S1 và ông Lý Hải 1 “Tờ thỏa thuận” giao phần tài sản phần tài sản của bà H2 theo Quyết định số 155/QĐ.UBH.92 ngày 24/02/1992 và theo Quyết định số 156/QĐ.UBH.92 ngày 24/02/1992 của UBND huyện Ô cho ông H thừa hưởng và được toàn quyền định đoạt là không đúng quy định, vì lúc này các Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện Ô đã bị hủy nên bà H2 đã khởi kiện đến Tòa án để giải quyết, vì vậy phần đất tranh chấp chưa xác định là của bà H2; ông Lý H là người đại diện ủy quyền của các đồng thừa kế cũng thừa nhận vấn đề này tại Bản án phúc thẩm số 120/2018/DS-PT ngày 29/5/2018.
Sáu ngày sau (tức ngày 16/6/2012), ông H lập “Tờ cam kết”; theo đó, ông H cam kết khi chấm dứt vụ kiện nếu ông H thắng kiện trong vụ kiện đòi lại đất là di sản của bà H2 để lại, nếu được đền bù thì sau khi trừ án phí, chi phí trong vụ kiện, còn lại ông H chia đều cho 05 anh chị em gồm: ông P, ông H5, bà H1, bà S1 và ông H; “Tờ cam kết” này có xác nhận của T1 khu vực. Tuy nhiên, suốt quá
trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không ghi lời khai của ông P, bà H5 để làm rõ nội dung “Tờ thỏa thuận” là thiếu sót, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn nêu vấn đề này là có căn cứ.
Mặc dù các bên đã “Tờ thỏa thuận” ngày 10/6/2012, như sau đó ông H cam kết nếu thắng kiện trong vụ đòi lại đất là di sản của bà H2, sau khi trừ chi phí thì ông H sẽ chia đều cho các anh chị em.
Ông H cho rằng các anh chị đã giao di sản của bà H2 cho ông hưởng, nhưng ngày 13/8/2018, ông H còn thuê lại căn nhà của bà H1 trên phần đất tranh chấp để mua bán tạp hóa.
Tại phần Quyết định của Bản án số 120/2018/DS-PT có nội dung: Nguyên đơn được tiếp tục ổn định sử dụng nhà, đất tại vị trí số 23+24 có diện tích 285,5m² (do Lý Kim H1 và Lý Hải con bà Kim H2 sử dụng) và được quyền đăng ký xác lập quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền để đứng tên quyền sử dụng đất tại vị trí nêu trên theo trích đo địa chính số 09 ngày 01/12/2013 của Trung tâm K. Như vậy, khi có Bản án số 120/2018/DS-PT thì phần đất tranh chấp là của nguyên đơn- bà Dương Kim H2 do bà H2 đã chết nên, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H2 được thừa hưởng phần đất này, chứ không phải của cá nhân ông H hay của bà H1, nên bà yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp cho cá nhân bà H1 là chưa đủ căn cứ.
Ông H căn cứ “Tờ thỏa thuận” ngày 10/6/2012 để xin cấp GCNQSDĐ đối với vị trí bà H1 sử dụng và đã được tuyên Bản án số 120/2018/DS-PT là không đúng quy định của Luật đất đai.
Bên cạnh đó, tại Công văn số 678/UBND ngày 05/4/2023 của UBND quận Ô cho rằng: việc cấp GCNQSDĐ số CH05530 ngày 12/11/2019, thửa 224 diện tích 82,2m² (loại đất ODT), chỉ ghi tên ông Lý H là thực hiện theo nội dung Quyết định số 17/2019/QÐST-DS ngày 20/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn; Tờ thỏa thuận ngày 10/6/2012 của những người con của bà H2, mà không căn cứ vào Bản án số 120/2018/DS-PT là trái quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Bên cạnh đó, Quyết định số 17/2019/QÐST-DS ngày 20/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, các bên thỏa thuận giao cho ông Hải vị trí 25, 26 diện tích 129,2m² theo Bản trích đo địa chính số 09/TTKTTNMT ngày 02/12/2013, trong khi vị trí 23 là do bà H1 sử dụng và được công nhận theo Bản án số 120/2018/DS-PT. Mặt khác, khi đo đạc cấp GCNQSDĐ cho H thì trên đất có căn nhà của bà H1 xây dựng từ năm 1994, nhưng khi đo đạc cũng không thể hiện ý kiến của bà H1. Nên việc cấp GCNQSDĐ cho ông H tại thửa 224 diện tích 82,2m² là không đúng quy định của Luật đất đai.
Tuy nhiên, đến nay những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H2 không yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất này. Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì bà H1 nhận kỷ phần thấp hơn so với bản án sơ thẩm đã tuyên. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của các bên nên giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với nội dung này và không cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho
ông H đối với thửa 224 diện tích 82,2m².
Theo hồ sơ thể hiện, bà H1 sử dụng đất từ trước những năm 1994, lúc này đất chưa được công nhận cho bà H2, chưa bằng phẳng, bà H1 đã bồi đắp để xây dựng nhà nên mới có giá trị như hôm nay, nên bà H1 có công sức trong việc quản lý, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất. Nên Tòa án cấp sơ thẩm tính công sức cho bà H1 bằng 30% quyền sử dụng đất là hợp lý.
Đối với kháng cáo yêu cầu ông H trả tiền thuê nhà, nhận thấy: ngày 13/8/2018, giữa ông H và bà H1 lập Hợp đồng thuê nhà, thời hạn thuê là ngày 13/8/2018 đến ngày 13/8/2021, giá thuê là 6.000.000 đồng/tháng, ông H đã trả tiền thuế đến ngày 13/8/2021. Sau khi hết thời hạn thuê, mặc dù các bên không thỏa thuận tiếp tục thời hạn thuê nhưng ông H không trả nhà thuê mà vẫn tiếp tục sử dụng nhà của bà H1 để mua bán tạp hóa, nên cần buộc ông H phải tiếp tục trả tiền thuê nhà từ ngày 14/8/2021 đến khi xét xử sơ thẩm (ngày 13/9/2023) là 25 tháng, mỗi tháng 6.000.000 đồng, với tổng số tiền là 150.000.000 đồng là hợp lý.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H1 yêu cầu ông H trả tiền thuê nhà đến khi ngày xét xử phúc thẩm là vượt quá phản tố ban đầu, vượt quá phạm vi kháng cáo. Do giới hạn xét xử phú thẩm quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên cấp phúc thẩm không xem xét. Bà H1 có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác đối với phần tiền thuê nhà từ sau này xét xử sơ thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Thạch K là chồng bà H1 vào tham gia tố tụng là sai sót.
Mặc dù Tòa án cấp phúc thẩm có những thiếu sót như đã nêu trên, nhưng không thay đổi bản chất vụ án, nên chỉ cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
- Chấp nhận một phần kháng cáo bị đơn bà Lý Kim H1; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lý H; chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-DS ngày 03/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn;
- Sửa bản án sơ thẩm buộc ông H trả tiền thuê nhà cho bà H1 với tổng số tiền là 150.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của ông H tại phiên tòa xác định ông H yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đồng thời không đồng ý trả cho bà H1 công sức gìn giữ tương đương 30% giá trị thửa đất; Trường hợp bà H1 không di dời nhà thì ông sẽ hoàn lại cho bà H1
100.000.000đồng;
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất của thửa 224 là của bà Dương Kim H2 để lại (theo Bản án số 120 của Toà án Nhân dân thành phố Cần Thơ, trước đây là thửa 23 theo bản trích đo địa chính số 09 ngày 02/12/2013 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C). Hiện tại ông Lý H đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 224; Theo công văn số 678/UBND ngày 05/4/2023 của UBND quận Ô xác định căn cứ vào Quyết định số 17/2019QDST – DS ngày 20/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Ôn Môn; Tờ thỏa thuận ngày 10/6/2012 của những người con của bà Dương Kim H2. Căn cứ vào nọi dung của Quyết định số 17 và Tờ thỏa thuận ngày 10/6/2012 cho thấy các đồng thừa kế của bà Dương Kim H2 bao gồm Lý Búp P, L, Lý Kim H1, Lý Thị S1 đã có sự thỏa thuận cụ thể: “ đồng ý giao phần tài sản (là quyền sử dụng đất được UBND huyện Ô giao cho bà H2 theo quyết định số 155/QĐ.UBH ngày 24/02/1992, diện tích 1.799m² và Quyết định số 156/QĐ.UBH ngày 24/02/1999 của UBND huyện Ô) mà các đồng thừa kế được hưởng hưởng thừa kế cho ông Lý h, sinh năm 1965 định đoạt. Chúng tôi không khiếu nại về sau”. Mặt khác, hồ sơ còn thể hiện ngày 13/06/2012 các đồng thừa kế của bà Dương Kim H2 bao gồm Lý Búp P, Lý Kim H1, Lý Thị S1 đều có văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của bà H2 đồng thời nhượng quyền thừa kế tài sản trên cho ông Lý H, ông H được toàn quyền định đoạt. tại phiên tòa bà H1 thừa nhận chữ ký trong văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế là của bà, nhưng bà cho rằng việc ký tên này nhằm ủy quyền cho ông H khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất của mẹ ông bị các hộ dân lấn chiếm. Tuy nhiên, vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất trên khi còn sống bà H2 đã tham gia với tư cách là nguyên đơn, khi bà H2 mất thì những người thừa kế của bà có quyền ngang như nhau để tham gia vụ kiện, trường hợp bà H1 không thể tham gia vụ kiện thì bà có thể ủy quyền bằng một văn bản tố tụng cho ông H hoặc một người khác tham gia tố tụng. Văn từ chối nhận tài sản thừa kế là văn bản thể hiện quyền định đoạt về tài sản có nội dung và ý nghĩa khác với văn bản tố tụng (Văn bản ủy quyền). Từ những cơ sở trên cho thấy, các đồng thừa kế của bà H2 đã từ chối nhận di sản và nhượng quyền hưởng di sản của bà H2 lại cho ông H. Bản án số 120/2018/DS – PT ngày 25/9/2018 đã tuyên “ nguyên đơn được tiếp tục ổn định sử dụng nhà, đất tại vị trí số 23 + 24 có diện tích 285,5m2 (do Lý Kim hằng và Lý Hải con của bà H2 sử dụng) và được quyền đăng ký xác lập quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền để đứng tên quyền sử dụng”. Theo bản án này nguyên đơn là bà Dương Kim H2 nên quyền sử dụng 02 thửa đất 23 + 24 thuộc về bà H2 nhưng những người thừa kế của bà H2 đã từ chối nhận di sản của bà và nhượng quyền lại cho ông Lý H. Do đó, UBND quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 thửa đất cho ông H là có căn cứ;
[2.2] Đối với giá trị tài sản trên đất: là căn nhà cấp 4, mái tôn, đòn tay sắt, cách tường, nền gạch men, la phông xốp, diện tích 82,2m². Các bên đương sự đều thừa nhận căn nhà thuộc quyền sở hữu của bà H1, theo biên bản định giá tài sản ngày 20/07/2023 của Hội đồng định giá do Tòa án nhân dân quận Ô Môn lập
thì căn nhà đã khấu hao hết giá trị sử dụng. Tại phiên toà ông H, bà H1 đều thống nhất căn nhà có giá trị 100.000.000đồng, nếu buộc bà H1 tháo dỡ căn nhà trên thì không đảm bảo cho việc sử dụng tiếp tục, gây lãng phí nên thấy việc giao cho ông H sử dụng và buộc ông H có trách nhiệm hoàn lại giá trị căn nhà cho bà H1 là hợp lý;
[2.3] Đối với kháng cáo về công gìn giữ tôn tạo làm tăng giá trị thửa đất, xét thấy quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn đều cho rằng đã san lắp, làm nền nhà nhưng cả 02 đều chưa có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày này. Mặt khác, bà H1 ở trên thửa đất này thời gian sau đó bà di dời và cho thuê lại. Như vậy việc cho thuê này bà H1 đã có hưởng lợi và bà H1 cũng chưa có chứng cứ gì thể hiện đã tôn tạo làm tăng giá trị thửa đất nên cấp sơ thẩm buộc ông H trả bà H1 30% giá trị thửa đất là chưa phù hợp.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lý Kim H1, theo đơn kháng cáo và lời trình bày của bà H1 tại phiên toa xác định bà H1 yêu cầu HĐXX phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn cụ thể: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CR885257 do UBND quận Ô cấp ngày 12/11/2019 cho ông Lý H; Công nhận cho bà H1 được quyền sử dụng phần đất 82,2m², tại vị trí 23, thửa 224, TBĐ 56 tọa lạc tại KH5, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Buộc ông Lý H phải trả lại nhà và đất cho bà Lý Kim H1 đồng thời yêu cầu yêu cầu ông H trả tiền thuê nhà từ 14/8/2021 đến nay là 30 tháng với tổng số tiền 180.000.000đồng.
[3.1] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận và công nhận quyền sử dụng thửa đất thửa 224, TBĐ 56 tọa lạc tại KV5, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Như đã nhận định tại Mục 2, ông H xác lập quyền sử dụng đất do được hưởng thừa kế và UBND quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H là có căn cứ, đúng trình tự. Mặt khác, tại phiên tòa bà H1 xác định yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất do bà được bà H2 tặng cho trước khi mất, tuy nhiên bà không có chứng cứ hay văn bản nào thể hiện việc tặng cho này. Do đó, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất nêu trên của bà H1 không có cơ sở chấp nhận;
[3.2] Về yêu cầu trả lại nhà, quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thừa nhận nhà do bà H1 xây dựng, thuộc quyền sở hữu của bà. Do đó, bà H1 yêu cầu ông H trả lại là có cơ sở, tuy nhiên căn nhà xây dựng đã lâu nếu tháo dỡ thì không đảm bảo cho việc sử dụng tiếp tục, gây lãng phí nên thấy việc giao cho ông H sử dụng và buộc ông H có trách nhiệm hoàn lại giá trị căn nhà cho bà H1 với số tiền 100.000.000đồng là phù hợp;
[3.3] Đối với yêu cầu trả tiền thuê nhà, tại phiên tòa ông H thừa nhận căn nhà thuộc quyền sở hữu của bà H1, việc bà H1 xây dựng căn nhà ông H có biết đồng thời có lập hợp đồng thuê nhà với bà H1, do đó bà H1 yêu cầu ông trả tiền thuê nhà từ 14/8/2021 đến khi xét xử sơ thẩm là 25 tháng, mỗi tháng 6.000.000đồng với tổng số tiền 150.000.000đồng là có căn cứ. Tại phiên tòa bà H1 yêu cầu ông H trả tiền thuê nhà từ 14/8/2021 đến khi xét xử phúc thẩm là
vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và phạm vi kháng cáo nên không được chấp nhận.
[4] Xét kháng nghị số 10/QĐ – VKS – D ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn là có cơ sở chấp nhận một phần về việc buộc ông H trả tiền thuê nhà cho bà H1 với tổng số tiền là 150.000.000 đồng.
Từ những nhận định trên cho thấy có cơ sở chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát quận Ô, một phần kháng cáo của nguyên đơn và một phần kháng cáo của bị đơn;
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lý H, bà Lý Kim H1 không phải chịu. Ông H được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu số 0002293 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-DS ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lý H.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lý Kim H1 về việc yêu cầu ông Lý H trả tiền thuê nhà từ khi hết hợp đồng thuê nhà đến khi xét xử sơ thẩm.
-
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Giao căn nhà của bà Lý Kim H1 cho ông Lý H. Ông Lý H có nghĩa vụ trả cho bị đơn 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) giá trị căn nhà của bà Lý Kim H1 cất trên thửa đất số 224, tờ bản đồ số 56 toạ lạc tại khu vực 4, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ông Lý H có nghĩa vụ trả cho bà Lý Kim H1 tiền thuê nhà từ ngày 14/08/2021 đến khi xét xử sơ thẩm, số tiền là 150.000.000đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn.
-
Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bị đơn. Bị đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003118 ngày 22/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn. Nguyên đơn phải chịu là 7.500.000đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Nguyên đơn được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003068 ngày 25/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành án phí. Nguyên đơn phải nộp thêm số tiền là 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lý H, bà Lý Kim H1 không phải chịu. Ông H được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002293 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và thời hiệu Thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 328/2024/DSPT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng thuê nhà
- Số bản án: 328/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng thuê nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hải - Hằng - Tranh chấp QSD đất
