Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 328/2025/LĐ-ST

Ngày: 30 – 6 - 2025

V/v: “Tranh chấp về hợp

đồng lao động”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiệu Văn Kết Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lê Vân;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Phương Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 154/2025/TLST-LĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2025/QĐXXST-LĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 130/2025/QÐST-LĐ ngày 13/6/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1985; số căn cước công dân [...]; nơi cư trú: Xóm A, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ liên lạc: A N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Anh L, sinh năm 1991; nơi cư trú: A N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Bà Trần Thị L1, sinh năm 1994; số căn cước công dân [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ tạm trú: 1/11 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S); địa chỉ: Lô C, đường số H, Khu công nghiệp V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Seo Nan H, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • - Công ty TNHH H1; địa chỉ: Số A khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  • - Bảo hiểm xã hội thành phố T; tỉnh Bình Dương; trụ sở: Khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • - Bảo hiểm xã hội thành phố T; tỉnh Bình Dương; trụ sở: phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Do có nhu cầu rút bảo hiểm nên bà Trần Thị T có đến liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương để rút bảo hiểm theo quy định và bà được Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương thông báo thời điểm từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 bà có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2011 bà có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH H1 nên các Công ty trên có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà vào thời gian trên.

Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời điểm nêu trên bà Trần Thị T xác định đang làm việc cho Công ty khác nên cùng một khoảng thời gian bà được đóng bảo hiểm xã hội tại nhiều Công ty. Do đó, đến nay bà không thể thực hiện các thủ tục liên quan đến Bảo hiểm xã hội theo đúng quy định được.

Bà Trần Thị T xác định, thời gian nêu trên bà có cho bà Trần Thị Lệ M giấy chứng minh nhân dân của bà (Trần Thị T), để cho bà Trần Thị L1 là em ruột của mình mượn ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và Công ty TNHH H1 và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của bà Trần Thị T từ 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 và từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2011, nhưng trên thực tế người có tên Trần Thị L1 là người ký kết hợp đồng và trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và Công ty TNHH H1, do thời điểm nêu trên bà L1 không có giấy tờ tùy thân nên mới mượn chứng minh của bà T để ký kết hợp đồng lao động.

Nhận thấy, việc ký kết hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị L1 và Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và Công ty TNHH H1 là sai quy định, đã vi phạm nguyên tắc trung thực, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T.

Do đó bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên bà Trần Thị T (do bà Trần Thị Lệ K) và Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và Công ty TNHH H1 trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 và từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2011 là vô hiệu toàn bộ. Bà T tự nguyện chịu mọi chi phí tố tụng đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn bà Trần Thị L1 trình bày: Vào khoảng thời gian tháng 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 và từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2011, khi đó bà L1 chưa đủ tuổi để tham gia ký kết hợp đồng lao động nhưng do điều kiện khó khăn nên bà L1 đã mượn giấy tờ của chị mình là bà T để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và Công ty TNHH H1 và được các Công ty tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho mình. Nay bà nhận thấy việc ông ký kết hợp đồng lao động với các Công ty trên là sai quy định, vi phạm nguyên tắc trung thực, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà L1 thống nhất, bà không có yêu cầu gì liên quan đến hợp đồng lao động trên, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) trình bày: Công ty xác định do thời gian đã quá lâu và Công ty cũng có nhiều thay đổi nên Công ty cũng không còn lưu trữ các dữ liệu liên quan đến hợp đồng lao động như đương sự trình bày, nếu có liên quan đến quá trình lao động trên đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật, Công ty không có liên quan đến tranh chấp này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày:

Bà Trần Thị T, sinh ngày 31/11/1985, số Căn cước công dân [...] có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ở các mã BHXH như sau;

  1. Mã số BHXH: 7410033625 tham gia từ tháng 8/2010 đến tháng 9/2010 tại Công ty TNHH MTV S, chốt sổ ngày 16/12/2010 và Công ty TNHH H1 tham gia từ tháng 2/2011 đến tháng 12/2011, đã chốt ngày 30/12/2011. Đã hưởng BHXH 1 lần và BHTN.
  2. Mã số BHXH: 7411084406 tham gia từ tháng 02/2011 đến tháng 9/2023 tại Công ty TNHH S1, chốt sổ ngày 15/10/2023 và Công ty TNHH H1 tham gia từ tháng 2/2011 đến tháng 12/2011, đã chốt ngày 30/12/2011. Đã hưởng BHXH 1 lần và BHTN.
  3. Mã số BHXH: 0204351716 tham gia từ tháng 10/2004 đến tháng 10/2005 tại Công ty CP M2, chốt dữ liệu trên Hệ thống ngày 30/10/2019, chưa nhận BHXH 1 lần.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày:

Bà Trần Thị T, sinh ngày 31/11/1985, Chứng minh nhân dân: [...]; số căn cước công dân [...] có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) tại Công ty TNHH H1 tham gia từ tháng 2/2011 đến tháng 12/2011, đã chốt ngày 30/12/2011. Đã hưởng BHXH 1 lần và BHTN.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
  • + Về nội dung: Căn cứ Điều 15, 16, 49 và 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

  • [1.1] Về quan hệ tranh chấp: Trần Thị T khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động tên Trần Thị T (do bà Trần Thị L1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và Công ty TNHH H1 vô hiệu toàn bộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • [1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – bà Trần Thị L1 có địa chỉ tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  • [1.3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án nguyên đơn; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặt dù đã được niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

2. Về nội dung:

  • [2.1] Các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ là hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị T (do bà Trần Thị L1 là người ký) với Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và Công ty TNHH H1. Tuy nhiên, tất cả các đương sự đều thống nhất có việc giao kết hợp đồng và quá trình tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 với Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2011 với Công ty TNHH H1. Đây là sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • [2.2] Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thông tin Bảo hiểm xã hội thành phố T, Bảo hiểm xã hội thành phố T tỉnh Bình Dương cung cấp có cơ sở xác định bà Trần Thị T cho bà Trần Thị Lệ M hồ sơ mang tên bà Trần Thị T để xác lập hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 với Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2011 với Công ty TNHH H1 theo số Bảo hiểm xã hội 7410033625. Trong khoảng thời gian trên, bà Trần Thị T cũng tham gia lao động tại Công ty khác và tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo số Bảo hiểm xã hội số 07411084406.
  • [2.2] Thực tế đối tượng lao động và đối tượng ký kết hợp đồng từ 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 với Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) và từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2011 với Công ty TNHH H1 là bà Trần Thị L1 chứ không phải bà Trần Thị Tuyết. Việc bà Trần Thị Lệ M hồ sơ của bà Trần Thị T để đi làm tại các Công ty trên là vi phạm nguyên tắc “trung thực” quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 (khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019), do đó căn cứ Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015) và Điều 49, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2019 đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, nên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết.
  • [3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • [4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
  • [5] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị T tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994 và Điều 17, 19, 50, 51, 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (các Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019);
  • - Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015).
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị T về việc tranh chấp hợp đồng lao động với bị đơn - bà Trần Thị Lệ .1
  2. Tuyên bố hợp đồng lao động giao kết giữa bà Trần Thị T (do bà Trần Thị Lệ K) và Công ty TNHH M1 (trước đây là Công ty TNHH MTV S) trong thời gian từ 8 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010 bị vô hiệu toàn bộ.

    Tuyên bố hợp đồng lao động giao kết giữa bà Trần Thị T (do bà Trần Thị Lệ K) và Công ty TNHH H1 trong thời gian từ 02/2011 đến tháng 12/2011 bị vô hiệu toàn bộ.

  3. Về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: Cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối các đương sự theo quy định pháp luật.
  4. Về án phí: Bà Trần Thị T tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000930 ngày 13/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thuận An;
  • - CCTHADS Tp. Thuận An;
  • - Chánh án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thiệu Văn Kết Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 328/2025/LĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về hợp đồng lao động

  • Số bản án: 328/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA Trần Thị Tuyết - Trần Thị Lệ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger