Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 328/2025/DS-ST

Ngày: 23-5-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuý Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Nguyễn Thị Quế Nhung
  2. Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1063/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 509/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)
  2. Địa chỉ: Số I đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy D– Sinh năm 2000 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo Giấy ủy quyền ngày 01 tháng 3 năm 2024).

    Địa chỉ: P tầng D Tòa nhà S T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.

  3. Bị đơn: Bà Phan Thị Lan C - Sinh năm 1968
  4. Địa chỉ: 2, Khu phố B (Nay là Khu phố A), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/9/2022, bà Phan Thị Lan C ký đề nghị vay vốn. Ngày 13/9/2022, Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T) và bà Phan Thị Lan C ký kết Hợp đồng tín dụng số 3616173 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Phan Thị Lan C với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Gồm 30.000.000 đồng giải ngân qua số tài khoản 102003979801 mở tại Ngân hàng TMCP C1 và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay), lãi suất 44%/năm.

Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bị đơn. Theo Hợp đồng tín dung, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10/10/2022 đến ngày 10/09/2024.

Sau khi được giải ngân, bị đơn đã thanh toán 16.291.808 đồng (Trong đó: G đã trả là 7.964.089 đồng; L đã trả là 8.243.719 đồng; Phí thu hộ đã trả là 84.000 đồng).

Tuy nhiên, từ ngày 11 tháng 05 năm 2023, bị đơn đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân. Ngày 10 tháng 6 năm 2023, Công ty T đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bà C thành khoản nợ quá hạn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền nợ tạm tính kể từ ngày 10/6/2023 đến ngày 22/01/2025 là 47.263.163 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 24.015.911 đồng; Số tiền lãi trong hạn là 7.465.332 đồng; Số tiền lãi quá hạn là 14.852.637 đồng; Số tiền lãi chậm trả là 929.283 đồng (Cách tính lãi trên được căn cứ tại Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng). Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 23/01/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

Yêu cầu Tòa án buộc bà Phan Thị Lan C phải thanh toán cho Công ty tổng số tiền tạm kể từ ngày 10/6/2023 đến ngày 23/5/2025 là 52.765.194 (Năm mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn một trăm chín mươi tư) đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 24.015.911 (Hai mươi bốn triệu không trăm mười lăm ngàn chín trăm mười một) đồng; Số tiền lãi trong hạn là 7.465.332 (Bảy triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn ba trăm ba mươi hai) đồng; Số tiền lãi quá hạn là 20.107.187 (Hai mươi triệu một trăm linh bảy ngàn một trăm tám mươi bảy) đồng; Số tiền lãi chậm trả là 1.176.764 (Một triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm sáu mươi bốn) đồng một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 24/5/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

* Về ý kiến, đề nghị của bị đơn:

Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa cũng không gửi bất kỳ văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 12 tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đến Tòa án để giải quyết vụ kiện.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự.

Về nội dung:

Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc giao trả tiền vốn và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng do hai bên đã xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại địa chỉ: 2, Khu phố B (Nay là Khu phố A), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên theo quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về các yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Công ty T (Việt Nam) là tổ chức tín dụng phi ngân hàng (theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017) hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, được cấp tín dụng theo hình thức “cho vay” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngày 13/9/2022, Công ty T (Việt Nam) và bà Phan Thị Lan C ký Hợp đồng tín dụng số 3616173 về việc cấp tín dụng cho bà Phan Thị Lan C với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Việc nguyên đơn và bị đơn giao kết hợp đồng tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.

Từ ngày 11 tháng 5 năm 2023, bị đơn đã không thanh toán đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại mục 3.3 và điểm a mục 8.1 của hợp đồng tín dụng số 3616173 ngày 13/9/2022. Ngày 10 tháng 6 năm 2023, Công ty T đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bà C thành khoản nợ quá hạn.

Căn cứ vào mục 8.3 Hợp đồng tín dụng số 3616173 ngày 13/9/2022, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng thì yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi của nguyên đơn là phù hợp.

Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải giao trả toàn bộ số tiền vốn và lãi chưa thanh toán là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch.

Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 227, 228, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án Dân sự;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  2. Buộc bà Phan Thị Lan C phải trả cho Công ty T (Việt Nam) toàn bộ số tiền nợ vốn và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 3616173 ngày 13 tháng 9 năm 2022 tạm tính đến hết ngày 23 tháng 5 năm 2025 là 52.765.194 (Năm mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn một trăm chín mươi tư) đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 24.015.911 (Hai mươi bốn triệu không trăm mười lăm ngàn chín trăm mười một) đồng; Số tiền lãi trong hạn là 7.465.332 (Bảy triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn ba trăm ba mươi hai) đồng; Số tiền lãi quá hạn là 20.107.187 (Hai mươi triệu một trăm linh bảy ngàn một trăm tám mươi bảy) đồng; Số tiền lãi chậm trả là 1.176.764 (Một triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm sáu mươi bốn) đồng.

    Buộc bà Phan Thị Lan C phải tiếp tục chịu các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận với Công ty T (Việt Nam) kể từ ngày 24/5/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

    Bà Phan Thị Lan C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) một lần toàn bộ số tiền nêu trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về án phí:
    1. Buộc bà Phan Thị Lan C phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 2.638.260 (Hai triệu sáu trăm ba mươi tám ngàn hai trăm sáu mươi) đồng.
    2. Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện là 837.241 (Tám trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm bốn mươi mốt) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0049510 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

  6. Quyền kháng cáo:
  7. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 328/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 328/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger