|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 328/2025/DS-PT Ngày: 18-6-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
Thư ký phiên toà: Bà Thái Ngọc Thanh Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên.
Ngày 18/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 155/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 336/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Công T, sinh năm 1983 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. - Bị đơn: Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1987 (có mặt);
Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Công T là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Công T trình bày:
Ông T và bà Nguyễn Thị Ngọc T1 quen biết với nhau thông qua trang mạng xã hội Facebook, nhiều lần gặp nhau và có phát sinh tình cảm yêu thương nhau. Ông T có vợ và đã ly hôn vào năm 2021, còn bà T1 cũng có chồng và cũng đã ly hôn. Hai bên phát sinh tình cảm yêu thương nhau từ khoảng cuối năm 2021 đầu năm 2022 cho đến tháng 10/2023 thì chia tay nhau. Quê và nhà ông T tại ấp T, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, còn bà T1 làm công nhân tại Bình Dương. Trong thời gian yêu thương nhau thì ông T cũng có nhiều lần lên thăm bà T1 tại Bình Dương, còn bà T1 cũng có lần về nhà ông T chơi và nhiều lần quan hệ thể xác với nhau. Trong thời gian này bà T1 có tâm sự với ông T là đang gặp khó khăn trong cuộc sống, trị bệnh, cần tiền để trả nợ, xoay sở trong cuộc sống, nên cần vay tiền của ông. Do yêu thương nhau nên ông T cũng tin tưởng và không xác minh sự thật những lời bà T1 nói có đúng không, nên ông mới chuyển tiền cho bà T1 vay. Nay cả hai chia tay ông T đòi tiền lại thì bà T1 không chịu trả. Trong thời gian yêu thương nhau thì ông T cũng nhiều lần đưa tiền mặt cho bà T1 nữa, nhưng nay do không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh nên ông T không khởi kiện đòi các khoản tiền mặt này, coi như ông cho bà T1. Việc bà T1 vay mượn tiền của ông T tổng cộng là 06 lần bằng hình thức chuyển khoản, qua số tài khoản 0601000446751 của bà T1 mở tại Ngân hàng V, tổng số tiền là 29.600.000 đồng, số lần và số tiền chuyển mỗi lần như ông T đã kê khai và đi sao kê nộp kèm theo đơn khởi kiện.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trả số tiền vay còn nợ là 29.600.000₫ (Hai mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra ông T không yêu cầu hay trình bày gì thêm.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trình bày:
Trước đây khoảng hơn 01 năm thì giữa bà T1 và ông Nguyễn Công T có quen nhau biết và yêu thương nhau qua mạng xã hội Facebook, thời gian từ ngày 14/02/2022 cho tới cách đây khoảng 01 năm thì chia tay. Trong thời gian quen nhau cách khoảng 01 tháng thì ông T lên thăm bà T1 một lần, vì bà đang làm công nhân ở Bình Dương. Hai bên quen nhau và có chung sống với nhau. Ông T nói với bà T1 là có số tài khoản không rồi tự nguyện chuyển tiền cho bà, chứ bà không xin hay vay mượn tiền gì của ông T. Vì yêu nhau nên bà T1 cũng không nghĩ gì về vấn đề tiền bạc. Ông T thương bà T1 và bà cũng thương ông T, nên hai bên chia sẽ khó khăn trong cuộc sống cho nhau, chứ bà không đòi hỏi gì cả. Đồng thời, trong thời gian quen nhau thì sức khỏe của bà T1 không được tốt, nên ông T chuyển tiền cho bà mua thuốc bồi bổ cơ thể để có thể gần gũi với ông T thường xuyên. Cũng như chi phí cho bà về nhà ông T chơi và mua quà cáp cho gia đình ông T. Đây là sự tự nguyện của ông T và cả hai cùng thống nhất, bà cũng trao thân xác cho ông T, không ai ép buộc ai. Bà T1 thống nhất số tài khoản 0601000446751, mở tại Ngân hàng V là của bà, bà cũng thống nhất là ông T có chuyển khoảng cho bà 0 lần tổng số tiền là 29.600.000 đồng như ông T trình bày. Nay hai bên không hợp nhau thì chia tay, không hiểu sao ông T khởi kiện bà đến Tòa án. Bà T1 không vay hỏi hay mượn tiền gì của ông T. Khi quen nhau thì ông T có tặng cho bà 01 chiếc nhẫn làm kỷ niệm, sau khi chia tay thì bà T1 cũng đã trả lại nhẫn cho ông T rồi. Nay không còn quan hệ tình cảm hay tiền bạc gì với nhau, khi bà T1 và ông T yêu nhau có nhắn tin liên lạc với nhau rất nhiều, hứa hẹn tình cảm yêu thương, hẹn hò và có nhiều tin nhắn không đúng thuần phong mỹ tục nữa.
Nay bà T1 không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T, vì toàn bộ số tiền 29.600.000 đồng mà ông T chuyển khoản và khởi kiện bà T1 đều là tự nguyện của ông T cho bà, chia sẽ khó khăn khi hai bên còn yêu thương nhau. Chứ bà T1 không có vay mượn tiền gì của ông T và ông T cũng không có chứng cứ gì chứng minh cho rằng bà T1 vay mượn tiền. Ngoài ra bà T1 không yêu cầu hay trình bày gì thêm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công T về việc khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trả số tiền vay còn thiếu là 29.600.000₫ (Hai mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Công T phải chịu là 1.480.000 đồng. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp là 740.000 đồng, theo biên lai thu số 0012312, ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Ông T còn phải nộp thêm số tiền là 740.000 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 25/02/2025 nguyên đơn ông Nguyễn Công T kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của ông T buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trả cho ông T số tiền 29.600.000 đồng, không cần trả lãi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Công T trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông T. Bởi các căn cứ như: Bà T1 có hỏi mượn (vay) tiền của ông T 06 lần bằng miệng (lời nói), ông T có chuyển khoản, qua số tài khoản của bà T1 với tổng số tiền là 29.600.000 đồng, bà T1 cũng đã thừa nhận có nhận số tiền này. Do ông T điện thoại liên hệ bà T1 nhiều lần nhưng không trả lời, nên các bên không chung sống với nhau nữa, vì vậy ông T yêu cầu bà T1 trả lại ông số tiền đã mượn 29.600.000 đồng, không cần trả lãi.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trình bày: Không thống nhất yêu cầu kháng cáo của ông T. Bởi vì, việc ông T chuyển tiền cho bà T1 là tự nguyện do hai bên có tình cảm yêu thương nhau để cho bà chữa bệnh, xoay sở khó khăn trong cuộc sống. Riêng việc ông T cung cấp tin nhắn Zalo tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện bà T1 có hỏi mượn ông T 10.000.000 đồng vào ngày 10/6/2023 đến ngày 12/6/2023 ông T có chuyển khoản cho bà T1 6.000.000 đồng thì bà T1 đồng ý trả lại cho ông T số tiền này.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của ông Nguyễn Công T thực hiện đúng quy định và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công T; tuyên xử sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự theo sự tự nguyện thừa nhận của bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trả cho ông T số tiền vay còn nợ là 6.000.000 đồng ngày 12/6/2023 (Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án số: ...../PB-VKS-DS ngày 18/6/2025).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Công T không thống nhất bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc ông T nộp đơn kháng cáo ngày 25/02/2025 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Công T cho rằng ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T1 quen biết và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn, thời gian chung sống từ cuối năm 2021 đến tháng 10/2023, sau đó thì mâu thuẫn không chung sống với nhau nữa. Trong thời gian chung sống bà T1 có trao đổi với ông T là đang gặp khó khăn cần tiền để trị bệnh, trả nợ, xoay sở trong cuộc sống, nên cần vay tiền của ông T. Do tin tưởng nên ông T chuyển tiền cho bà T1 vay tổng cộng là 06 lần bằng hình thức chuyển khoản, qua số tài khoản 0601000446751 của bà T1 mở tại Ngân hàng V, tổng số tiền là 29.600.000 đồng. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 phải trả số tiền vay còn nợ là 29.600.000, không yêu cầu tính lãi. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 không thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông T, cho rằng trong thời gian chung sống với ông T thì ông T tự nguyện chuyển tiền cho bà chia sẽ khó khăn trong cuộc sống khi bà bị bệnh, chứ bà không có vay mượn tiền gì của ông T. Điều này đã làm phát sinh tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa các đương sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 thừa nhận có nhắn tin qua Zalo cho ông T ngày 10/6/2023 để hỏi vay (mượn) 10.000.000 đồng đến ngày 12/6/2023 ông T có chuyển khoản cho bà T1 6.000.000 đồng, bà T1 thống nhất trả lại cho ông T số tiền này, xét đây là sự tự nguyện của bà T1 và phù hợp chứng cứ do ông T cung cấp, nên chấp nhận. Riêng đối với số tiền còn lại 23.600.000 đồng việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công T là có cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
- Trong thời gian ông T và bà T1 yêu thương và chung sống với nhau thì ông T nhiều lần chuyển tiền qua số tài khoản của bà T1 06 lần chuyển tổng số tiền là 29.600.000 đồng. Tuy nhiên ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh các lần chuyển tiền ngày 08/3/2022 chuyển 3.000.000 đồng; ngày 09/4/2022 chuyển 3.000.000 đồng; ngày 18/5/2022 chuyển 15.000.000 đồng; ngày 25/7/2022 chuyển 600.000 đồng; ngày 15/9/2022 chuyển 2.000.000 đồng là cho bà T1 vay.
- Ông T và bà T1 đều thống nhất thừa nhận là có yêu thương và có sống chung với nhau như vợ chồng. Số tiền 23.600.000 đồng mà ông T chuyển khoản cho bà T1 là nhiều lần, liên tiếp trong thời gian ngắn (có lúc khoảng thời gian là hàng tháng), việc chuyển tiền này thực hiện trong khoảng thời gian hai bên yêu thương và sống chung với nhau (từ tháng 02/2022 đến tháng 9/2023), chứ không phải là trước hoặc sau thời gian yêu thương và sống chung với nhau. Ông T cũng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh là bà T1 đưa ra yêu cầu vay tiền của ông, ngoại trừ số tiền chuyển khoản ngày 12/6/2023 là 6.000.000 đồng như bà T1 thừa nhận.
- Việc ông T chuyển cho bà T1 số tiền 23.600.000 đồng là trên cơ sở tự nguyện của ông T trong thời gian ông và bà T1 yêu thương chung sống với nhau, thời điểm này bà T1 đang gặp khó khăn về kinh tế và sức khỏe không tốt, nên xét về hoàn cảnh, điều kiện sống của hai bên thì lời trình bày của bà T1 là có cơ sở để chấp nhận. Nên xác định số tiền 23.600.000 đồng mà ông T chuyển khoản cho bà T1 đây là sự tự nguyện của ông T tặng cho bà T1 khi hai bên yêu thương và sống chung với nhau, chứ không phải bà T1 vay tiền của ông T.
[4] Tại phiên tòa ông Nguyễn Công T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của ông T là không có đủ căn cứ, đồng thời ông T cũng chỉ cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đối với số tiền 6.000.000 đồng ông chuyển khoản cho bà T1 ngày 12/6/2023 là tiền vay, việc này cũng được bà T1 thừa nhận tại phiên tòa phúc thẩm, còn lại số tiền 23.600.000 đồng thì ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bà T1 vay tiền của ông. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông T đối với số tiền 6.000.000 đồng mà bà T1 vay ngày 12/6/2023.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Công T, sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền vay mà bà T1 có nghĩa vụ trả cho ông T là 6.000.000 đồng, đồng thời sửa án phí sơ thẩm mà các đương sự phải chịu.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của ông Nguyễn Công T được chấp nhận một phần và án sơ thẩm bị sửa, nên ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Công T;
- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự theo sự thừa nhận của bà T1 trả cho ông T số tiền vay là 6.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và các Điều 91, 92, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 166, 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trả số tiền vay 23.600.000₫ (Hai mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Chấp nhận yêu cầu của ông T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trả số tiền vay 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền vay gốc còn nợ là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Công T phải chịu là 1.180.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp là 740.000 đồng, theo biên lai thu số 0012312, ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Ông T còn phải nộp thêm số tiền là 440.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Công T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000703, ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tấn Lợi |
Bản án số 328/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 328/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công T - Nguyễn Thị Ngọc T1
