Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 328/2025/DS-PT

Ngày: 16-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Yến

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Ông Đặng Văn Những

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 169/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm T, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện B, tỉnh Long An.

  2. Bị đơn: Ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện B, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Ngọc T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm T trình bày:

Ngày 23/12/2022 bà có cho ông Trần Ngọc T1 vay số tiền 10.000.000 đồng; ngày 05/6/2023 bà cho ông T1 vay số tiền 20.000.000 đồng; ngày 10/7/2023 bà tiếp tục cho ông T1 vay số tiền 10.000.000 đồng; lãi suất tự thỏa thuận; thời hạn vay là ngày 31/12/2023, tổng cộng số tiền vay là 40.000.000 đồng. Khi vay tiền bà và ông T1 có làm Giấy mượn tiền.

Tuy nhiên, từ khi vay cho đến nay ông T1 không thanh toán được khoản tiền gốc lãi nào. Bà đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nợ nhưng ông T1 cố tình không thanh toán.

Tại đơn khởi kiện ngày 18/7/2024, bà khởi kiện yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/7/2024 với mức lãi suất 1,5%/tháng là 8.550.000 đồng.

Tại đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 16/12/2024, bà rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Cẩm T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu ông Trần Ngọc T1 thanh toán cho bà T số tiền là 40.000.000 đồng. Bị đơn ông Trần Ngọc T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được do bị đơn ông Trần Ngọc T1 không tham gia tố tụng nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm T đối với bị đơn ông Trần Ngọc T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

    Buộc ông Trần Ngọc T1 phải trả cho bà Trần Thị Cẩm T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cẩm T về việc yêu cầu ông Trần Ngọc T1 phải trả số tiền lãi 8.550.000 đồng.

  3. Về án phí:

    1. Buộc ông Trần Ngọc T1 phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    2. Hoàn trả cho bà Trần Thị Cẩm T số tiền 1.213.750 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007796 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/3/2025 bị đơn ông Trần Ngọc T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm vì ông đã trả lãi cho bà T 25.000.000 đồng và yêu cầu được trừ vào tiền gốc. Do đó, ông T1 chỉ có trách nhiệm trả cho bà T số tiền 15.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị đơn ông Trần Ngọc T1 thay đổi yêu cầu kháng cáo, ông T1 đồng ý trả cho bà T số tiền 40.000.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ trên.

Nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm T không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo xin trả dần của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ y bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bị đơn được gửi đến Tòa án đúng thời hạn pháp luật quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Ông Trần Ngọc T1 thừa nhận có vay của bà T số tiền 40.000.000 đồng như bà T trình bày. Ông T1 trình bày có trả lãi cho bà T nhiều lần tổng cộng là 25.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh, bà T không thừa nhận. Tại phiên tòa, ông T1 đồng ý trả cho bà T 40.000.000 đồng vốn vay, xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ trên nhưng không được bà T đồng ý. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của đơn ông Trần Ngọc T1 được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  2. [2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Ngày 18/7/2024, bà Trần Thị Cẩm T khởi kiện ông Trần Ngọc T1, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1 trả cho bà T số tiền vay còn nợ là 40.000.000 đồng của các Giấy mượn tiền ngày 23/12/2022, số tiền 10.000.000 đồng; Giấy mượn tiền ngày 05/6/2023, số tiền 20.000.000 đồng; Giấy mượn tiền ngày 10/7/2023, số tiền 10.000.000 đồng do ông T1 vi phạm thời hạn trả nợ. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T: Buộc ông Trần Ngọc T1 phải trả cho bà Trần Thị Cẩm T số tiền 40.000.000 đồng. Ông T1 kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, ông T1 chỉ đồng ý trả cho bà T số tiền 15.000.000 đồng vì ông T1 đã trả lãi cho bà T được 25.000.000 đồng. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung liên quan đến kháng cáo.

  3. [3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc T1, thấy rằng:

    1. [3.1] Trong quá trình tố tụng tại tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn ông Trần Ngọc T1 vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt các thủ tục hợp lệ; ông T1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Bà T cung cấp cho Tòa án ba Giấy mượn tiền ngày 23/12/2022, ngày 05/6/2023, ngày 10/7/2023 thể hiện ông Trần Ngọc T1 vay của bà T tổng cộng 40.000.000 đồng, tại mục “người mượn” có chữ ký và chữ viết của ông Trần Ngọc T1. Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, đến hạn trả nợ nhưng ông T1 không trả vốn vay và tiền lãi cho bà T là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Bà T chỉ yêu cầu ông T1 trả tiền vốn vay, không yêu cầu trả tiền lãi; đây là quyền định đoạt của đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần Ngọc T1 có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Cẩm T số tiền 40.000.000 đồng là có căn cứ.

    2. [3.2] Bị đơn ông Trần Ngọc T1 kháng cáo cho rằng ông đã trả lãi cho bà T nhiều lần tổng cộng 25.000.000 đồng, hiện nay ông chỉ còn nợ bà T số tiền 15.000.000 đồng. Tuy nhiên ông T1 không cung cấp được chứng cứ để chứng minh, bà T không thừa nhận có nhận lãi số tiền như ông T1 trình bày. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 đồng ý trả cho bà T số tiền 40.000.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng không được bà T đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  4. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Ngọc T1 được miễn nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc T1.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Trần Ngọc T1.

    Buộc ông Trần Ngọc T1 có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Cẩm T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cẩm T về việc yêu cầu ông Trần Ngọc T1 phải trả số tiền lãi 8.550.000 đồng.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    1. Buộc ông Trần Ngọc T1 phải chịu 2.000.000 đồng.

    2. Hoàn trả cho bà Trần Thị Cẩm T số tiền 1.213.750 đồng (Một triệu hai trăm mười ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007796, ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Ngọc T1 được miễn nộp án phí.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Bến Lức;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Ngọc Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 328/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 328/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Cẩm T "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Trần Ngọc T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger