|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 328/2024/HC-PT Ngày: 23 - 4 - 2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 1141/2023/TLPT-HC ngày 26 tháng 12 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính”
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 1839/2023/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
- Người khởi kiện: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1957; địa chỉ: Số B Đường số A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
- Người bị kiện:
- 2.1. Ủy ban nhân dân quận B
- 2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- 3.2. Ông Lê Trọng P1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
- 3.3. Bà Lê Thị Kiều D, sinh năm 1987; Địa chỉ: 1 A, V, V5R 6B6, B, Canada.
- Người có kháng cáo: Người bị kiện Ủy ban nhân dân quận B.
Người đại diện theo ủy quyền cho người khởi kiện: Ông Trần Xuân K, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số G đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 07/3/2022) (có mặt)
Địa chỉ: Số F P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ P - Phó Chủ tịch (Văn bản ủy quyền số 52/GUQ-UBND ngày 06/7/2022) (có văn bản xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
Ông Phan Ngọc Anh H1 – Trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận B (có văn bản xin xét xử vắng mặt)
Bà Trần Thị H2 – Chuyên viên Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận B (có mặt)
Những người thừa kế của bà Đậu Thị B:
Cùng địa chỉ: 3 U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số B Đường số A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người khởi kiện ông Lê Thanh H do ông Trần Xuân K là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 07/01/2022 Ủy ban Nhân dân (UBND) quận B ra văn bản khiếu nại số: 79-UBND-BTGPMB trả lời khiếu nại “Về bồi thường hỗ trợ và giải phóng mặt bằng một phần tại nhà, đất (số H cũ N) số mới 108 đường P, phường B, quận B, Tp ...”
Căn cứ vào bản án số: 272/2019/HC-PT ngày 17 tháng 5 năm 2019 của Tòa án Nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu khời kiện của ông H: “Hủy một phần quyết định số 1587/QĐ- UBND ngày 23/2/2010 của UBND quận B và hủy một phần (tại điều 2) Quyết định số 853/QĐ-UBND ngày 04/2/2016 của Chủ tịch UBND quận B về phần bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với 71m² do Lữ đoàn 171 đăng kí quản lý theo chỉ thị 299/TTG.
Yêu cầu UBND quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Thanh H phần diện tích này đúng theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Thanh H phần diện tích đất này đúng theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản hướng dẫn thi hành.
UBND quận B giải quyết bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho ông H phần diện tích đất này đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định bồi thường tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo quy định của pháp luật UBND đã vi phạm nghiêm trọng việc bồi thường và giải tỏa cụ thể như sau:
- Đối với dự án đầu tư đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 chưa thực hiện chưa thực hiện chi trả tiền bồi thường thì việc xử lý bồi thường chậm thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.
- Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không Có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Ủy ban nhân dân quận B áp dụng những căn cứ cách đây hơn 10 năm để thực hiện Luật đất đai 2013 là trái với các quy định hiện hành, trái pháp luật, gây thiệt hại cho tôi.
Căn cứ vào nghị định 47/2014, Thông tư 37/2014 áp dụng để thực hiện Luật đất đai 2013. Không thể áp dụng đơn giá cách đây hơn 10 năm để đền bù cho chúng tôi Đất chúng tôi bị thu hồi từ năm 2010 Đến nay đã gần 12 năm năm, kinh tế kiệt quệ kệ không có thu nhập nhập, giá đất tăng vùn vụt chúng tôi không thể mua lại được đất.
Lẽ ra số tiền này chúng tôi được nhận đền bù cách đây 12 năm để chúng tôi mua mua đất lo chỗ ở nơi khác thời điểm này giá đất quận I khoảng 10 triệu đồng/ m² hiện nay giá đất tăng gấp 15 lần khoảng 150 triệu đồng/m². Với số tiền trên chúng tôi không thể mua đất xây nhà để ở. Khi thực hiện bản án UBND quận hiểu rõ pháp luật hơn ai hết; phải tính toán lại đơn giá bồi thường hoặc tính lãi suất Ngân hàng mà chúng tôi được hưởng, nhưng UBND quận áp dụng đơn giá cách đây 10 năm không tính lãi thiệt thòi cho chúng tôi, lỗi do UBND quận gây ra.
Chúng tôi yêu cầu như sau:
- Hủy quyết định số 497/QĐ- UBND ngày 27 tháng 01 năm 2021 về việc điều chỉnh bổ sung quyết định số 1587/QĐ- UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận B.
- Hủy văn bản số 79-UBND-BTGPMP ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Chủ tịch UBND quận B.
- Buộc ủy ban nhân dân quận B tính tiền lãi theo quy định pháp luật về việc chậm chi trả bồi thường.
* Người bị kiện vắng mặt nhưng có gửi Bản tự khai ngày 06/7/2022 và trình bày ý kiến như sau:
Nhà đất số A P (số cũ H N), Phường B, quận B do ông Lê Thanh H - bà Đậu Thị B là chủ sử dụng thuộc diện giải tỏa toàn phần để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị B - S trên địa bàn quận B.
Ngày 05/02/2008, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 616/QĐ-UBND về thu hồi đất để tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng chuẩn bị thực hiện dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị B - S tại Phường A, 21, 22 và 25 quận B.
Ngày 15/4/2009, Ủy ban nhân dân quận B ban hành hành Quyết định số 2587/QĐ-UBND về duyệt Phương án số 109/PA-UBND ngày 13/4/2009 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đô thị B - S tại Phường A và Phường B, quận B.
Ngày 23/02/2010, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định số 1587/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng toàn phần đối với căn nhà số A P, Phường B, quận B của ông Lê Thanh H - bà Đậu Thị B. Ngày 12/3/2010 ông Lê Thanh H - bà Đậu Thị B đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng theo Quyết định bồi thường nêu trên với tổng số tiền là 1.546.201.500 đồng.
Không đồng ý với việc bồi thường tại Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân quận B, ông Lê Thanh H khiếu nại. Ngày 04/02/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định 853/QĐ –UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Thanh H.
Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại, ông Lê Thanh H khởi kiện tại Tòa án. Ngày 08/8/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Bản án sơ thẩm số 1069/2018/HC-ST về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bác yêu cầu khởi kiện ông Lê Thanh H.
Không đồng ý với phán quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thanh H kháng cáo. Ngày 17/5/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Bản án phúc thẩm số 272/2019/HC-PT tuyên xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Thanh H: “Hủy một phần Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận B và hủy một phần (tại Điều 2) Quyết định số 853/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B về phần bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với 71m² do Lữ đoàn 171 đăng ký quản lý theo Chỉ thị 299/TTg.
Yêu cầu Ủy ban nhân dân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Thanh H phần diện tích đất này đúng theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản hướng dẫn thi hành...”
Thi hành Bản án phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân quận B lập Phiếu chiết tính số 133B/BTST-P22-BS ngày 08/01/2021 và ban hành Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2010 của Ủy ban nhân dân quận B với tổng số tiền về bồi thường, hỗ trợ bổ sung là 1.127.810.500 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, một trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm mười ngàn, năm trăm đồng). Ngày 05/11/2021, ông Lê Thanh H đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung nêu trên.
1. Về việc yêu cầu hủy văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 và Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 của Ủy ban nhân dân quận B
Để thi hành Bản án số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân quận B đã ban hành Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2010 của Ủy ban nhân dân quận B với tổng số tiền về bồi thường, hỗ trợ bổ sung là 1.127.810.500 đồng theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 05/11/2021, ông Lê Thanh H đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Quyết định nêu trên.
Sau khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung, ngày 06/11/2021, ông Lê Thanh H tiếp tục có đơn với nội dung kiến nghị Ủy ban nhân dân quận B giải quyết tiền trượt giá từ năm 2010 đến nay và tiền phát sinh từ việc chậm thi hành án từ ngày 17/5/2019 (ngày ban hành bản án) cho đến ngày 05/11/2021. Ngày 07/01/2022, Ủy ban nhân dân quận B có văn bản số 79/UBND-BTGPMB về việc trả lời đơn ông Lê Thanh H theo đúng quy định của pháp luật.
Do vậy, yêu cầu hủy văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 về việc trả lời đơn ông Lê Thanh H và Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận B không có cơ sở xem xét.
2. Về việc đề nghị trả tiền lãi suất theo quy định của pháp luật
Nội dung của Bản án phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Thanh H: “Hủy một phần Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận B và hủy một phần (tại Điều 2) Quyết định số 853/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B về phần bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với 71m² do Lữ đoàn 171 đăng ký quản lý theo Chỉ thị 299/TTg.
Yêu cầu Ủy ban nhân dân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Thanh H phần diện tích đất này đúng theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản hướng dẫn thi hành...”
Thi hành Bản án phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân quận B đã Phiếu chiết tính số 133B/BTST-P22-BS ngày 08/01/2021 và ban hành Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/2/2010 của Ủy ban nhân dân quận B với tổng số tiền về bồi thường, hỗ trợ bổ sung là 1.127.810.500 đồng. Ngày 05/11/2021, ông Lê Thanh H đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Quyết định nêu trên.
Bản án phúc thẩm không có nội dung yêu cầu tính lãi suất trên số tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung. Đồng thời, Luật Đất đai năm 2003 (luật áp dụng tại thời điểm Ủy ban nhân dân quận B thực hiện thu hồi đất tại số A P (số cũ H N), Phường B, quận B để đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đô thị B - S tại Phường A và Phường B, quận B) không quy định về việc tính lãi suất trên giá trị bồi thường bổ sung theo Bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, Ủy ban nhân dân quận B đã tổ chức thi hành Bản án phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông Lê Thanh H theo quy định. Do đó, việc ông Lê Thanh H yêu cầu trả lãi suất trên tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung là không có cơ sở xem xét giải quyết.
Căn cứ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Ủy ban nhân dân quận B nhận thấy việc ban hành văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 về việc trả lời đơn ông Lê Thanh H và Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận B về việc tính bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Bản án số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với nhà đất số A P (số cũ H N), Phường B, quận B của ông Lê Thanh H và các đồng thừa kế của bà Đậu Thị B là đúng quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T, ông P1, bà D có văn bản thống nhất ý kiến với người khởi kiện ông H, ngoài ra không có ý kiến gì khác.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 1839/2023/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ vào Điều 93 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 18, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13;
Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H:
- - Tuyên hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh không tính lãi phát sinh trên số tiền bồi thường bổ sung theo quyết định tại Bản án hành chính phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là hành vi hành chính trái pháp luật.
- - Hủy Văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh về giải quyết khiếu nại của ông Lê Thanh H.
- - Buộc Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh phải tính tiền lãi phát sinh trên số tiền bồi thường bổ sung 1.127.810.500 (Một tỷ một trăm hai mươi bảy triệu tám trăm mười nghìn năm trăm) đồng tại Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021cho ông Lê Thanh H theo đúng quy định pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 09/11/2023, người bị kiện Ủy ban nhân dân quận B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
Theo quy định của Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là không có căn cứ. Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H về yêu cầu tuyên hành vi hành chính buộc Ủy ban nhân dân quận B tính tiền lãi theo quy định pháp luật về việc chậm chi trả bồi thường.
Chứng cứ tại hồ sơ thể hiện: Thi hành Bản án phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân quận B đã lập Phiếu chiết tính ngày 08/01/2021 và ban hành Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2010 của Ủy ban nhân dân quận B với tổng số tiền về bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông H số tiền là 1.127.810.500 đồng.
Ngày 05/11/2021, ông H đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ bổ sung nêu trên.
Ngày 25/11/2021 ông H khiếu nại yêu cầu tính lãi trên số tiền bồi thường chậm trả (số tiền 1.127.810.500 đồng bồi thường bổ sung) này, tương ứng với thời gian chậm trả.
Ngày 25/11/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B ban hành văn bản số 79/UBND-BTGPMB trả lời đơn khiếu nại của ông H với nội dung không chấp nhận khiếu nại yêu cầu tính lãi của ông H.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27 tháng 01 năm 2021 về việc điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận B là quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông H và các đồng thừa kế của bà Đậu Thị B khi thực hiện Bản án phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh làm tăng giá trị bồi thường 1.127.810.500 đồng, áp giá theo đơn giá Phương án số 109/PA-UBND ngày 13/4/2009 là 22.085.000đồng/m² đất ở (đã được điều chỉnh hệ số K). Đây là tiền bồi thường hỗ trợ theo đúng chính sách mà hộ dân được nhận. Nghĩa là số tiền này họ phải được nhận từ thời điểm thu hồi, bồi thường đất năm 2010 theo Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 của Ủy ban nhân dân quận B. Tuy nhiên đến ngày 05/11/2021 hộ gia đình ông H mới được nhận tiền là do lỗi của Ủy ban nhân dân quận B đã áp giá bồi thường, hỗ trợ không đúng, dẫn đến việc kéo dài thời gian chậm chi trả, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, ông H yêu cầu tính lãi trên số tiền bồi thường chậm trả này tương ứng với thời gian chậm trả là có cơ sở pháp luật theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều 93 Luật đất đai năm 2013 và theo Công văn số 2163/UBND-ĐTMT ngày 21/4/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về giải quyết chính sách đối với các trường hợp chậm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hỗ trợ phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được phê duyệt trước ngày 01/7/2014; công văn số 554/HĐTĐBT ngày 26/9/2018 và công văn số 119/HĐTĐBT ngày 26/9/2018 của Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố. Do đó, buộc Ủy ban nhân dân quận B chi trả thêm tiền chậm chi trả do bồi thường sai, lãi suất theo quy định pháp luật trên thời gian chậm chi trả từ ngày 23/3/2010 (thời điểm nhận tiền bồi thường thực hiện dự án theo quyết định 1587/QĐ-UBND ngày 23/02/2010) đến ngày nhận tiền (ngày 05/11/2021) theo quyết định bổ sung số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 và tiền lãi phát sinh chưa trả đến ngày ban hành Quyết định bồi thường bổ sung cuối cùng.
[2] Xét Văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân quận B về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Thanh H:
- Căn cứ Điều 18 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011 thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B ban hành văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 về việc giải quyết khiếu nại của ông H là đúng thẩm quyền.
- Do xác định hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân quận B không tính lãi phát sinh trên số tiền bồi thường bổ sung theo quyết định tại Bản án hành chính phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tính tiền lãi suất trên tổng số tiền bồi thường bổ sung theo quy định nên Quyết định giải quyết khiếu nại Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B ban hành số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 không chấp nhận khiếu nại của ông H về tính bổ sung tiền lãi phát sinh theo lãi suất nhà nước đối với số tiền bồi thường bổ sung là không đúng quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015 hủy Văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ đó cho thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía người khởi kiện là có căn cứ và đúng pháp luật. Kháng cáo của phía người bị kiện là không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 1839/2023/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 93 Luật đất đai năm 2013; Điều 18, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H:
- - Tuyên hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh không tính lãi phát sinh trên số tiền bồi thường bổ sung theo quyết định tại Bản án hành chính phúc thẩm số 272/2019/HC-PT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là hành vi hành chính trái pháp luật.
- - Hủy Văn bản số 79/UBND-BTGPMB ngày 07/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh về giải quyết khiếu nại của ông Lê Thanh H.
- - Buộc Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh phải tính tiền lãi phát sinh trên số tiền bồi thường bổ sung 1.127.810.500 (Một tỷ một trăm hai mươi bảy triệu tám trăm mười nghìn năm trăm) đồng tại Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 cho ông Lê Thanh H theo đúng quy định pháp luật.
- Về án phí:
- - Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm; Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm;
- - Hoàn trả cho ông Lê Thanh H số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002153 ngày 16/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính phúc thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000069 ngày 17/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã nộp đủ tiền.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 328/2024/HC-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính
- Số bản án: 328/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kháng cáo toàn bộ
