|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 327/2023/HS-ST Ngày: 23/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Thẩm
- 2. Bà Phan Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Mỵ Nương - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 318/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 407/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Văn L (tên gọi khác không); sinh năm: 1991, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn C, sinh năm 1964; con bà: Lê Thị H – sinh năm: 1967; vợ: Đoàn Thị O, sinh năm: 1997, con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 24/6/2023 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 h 30 phút, ngày 24/6/2023, Đặng Văn L đang ở nhà có người đàn ông tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng tài khoản Zalo “Ngọc D” gọi đến tài khoản Z “Đặng L” rủ L vào thành phố V chơi và nói L tìm mua ma túy Ketamine và thuốc lắc đưa vào thành phố V sử dụng, L đồng ý. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/6/2023 Tăng nhờ chị Lê Thị L1, sinh năm 1993, trú tại xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An bán hàng tạp hóa chuyển khoản vào số tài khoản 8200166786666 của Ngân hàng TMCP Q của Đặng Văn L số tiền 5.000.000 đồng để L mua ma túy và đưa vào thành phố V để sử dụng. Sau đó, L đi đến xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An gặp và hỏi mua của một người không quen biết 04 (bốn) viên ma túy thuốc lắc và 01 gói ma túy Ketamine với số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Quá trình mua ma túy người này yêu cầu L trả bằng tiền mặt nên L chuyển vào tài khoản của anh Vũ Văn T1; trú tại: xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và lấy tiền mặt từ anh T1 và đưa cho người đàn ông bán ma túy số tiền 4.000.000 đồng và nhận ma túy. Sau khi mua được ma túy, đến khoảng 16 giờ 50 phút ngày 24/06/2023, L gọi điện thoại cho anh Đặng Văn Đ; sinh năm 1995; trú tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An lái xe taxi BKS 830.72 chở Đặng Văn L vào thành phố V. Đến 17 giờ 35 phút, ngày 24/6/2023 anh Đ chở L đến trước khách sạn C1 thuộc xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Khi L đang đứng trước cổng khách sạn chờ Tăng thì bị tổ công tác Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang. Tổ Công tác tiến hành thu giữ vật chứng và dẫn giải L về trụ sở Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng vụ án: 01 gói potylen màu trắng, bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén màu xám, hình không xác định, có tổng khối lượng là 1,589 gm đã lấy 02 viên gửi giám định; 01 bao potylen màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng sau khi loại bỏ bao bì 1,213 gam, đã lấy 0,213 gma gửi giám định. Số vật chứngcòn lại và vỏ giấy niêm phong được bỏ vào một phong bì thư dán kín và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật; 01 điện thoại di động Vivo Y 16 màu vàng đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 24/6/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Kết luận giám định số: 713/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 30/6/2023 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đặng Văn L đến đến giám định là ma túy (K), có khối lượng là 1,213 gam; Mẫu viên nén màu xám, hình không xác định thu giữ của Đặng Văn L gửi đến giám định là ma túy, loại (MDMA) có tổng khối lượng 1.589 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 344/CTP V ngày 05/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Đặng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Văn L từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 17 giờ 35 phút, ngày 24/6/2023, tại sân để xe trước cổng khách sạn C1 thuộc xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Đặng Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 1,589 gam ma túy (MDMA) và 1,213 gam ma túy Ketamine mục đích để sử dụng thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của Đặng Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Bị cáo tàng trữ hai chất ma túy, căn cứ Điều 5 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng khối lượng hai chất ma túy được tính như sau:Tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy MDMA so với mức tối thiểu MDMA quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là 31,78% (1,589 gam so với 20 gam). Tỷ lệ phần trăm về khối lượng Ketamine so với mức tối thiểu Ketamine quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 BLHS là 6,065% (1,213 gam so với 20 gam).Cộng tỷ lệ phần trăm khối lượng hai chất ma túy là: 31,78% + 6,065% = 37,845% (thuộc trường hợp dưới 100%). Nên Cáo trạng Viện Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng.
[2.2]. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi đó gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn tại địa phương là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy mang lại cho bản thân và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình có bịc áo có ông bà nôi là người có công với cách mạng được tăng Huy chương kháng chiến; bị cáo có thời phục vụ trong quân đội được tặng danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt. Cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức thấp như Đại diện viện kiểm sát đề nghị Tại phiên tòa là phù hợp thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công ăn việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Về vật chứng: 01 gói potylen màu trắng, bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén màu xám, hình không xác định, có tổng khối lượng là 1,589 gm đã lấy 02 viên gửi giám định; 01 bao potylen màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng sau khi loại bỏ bao bì 1,213 gam, đã lấy 0,213 gam gửi giám định. Số vật chứng còn lại và vỏ giấy niêm phong được bỏ vào một phong bì thư dán kín và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VivoY6 bị cáo sử dụng liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Vật chứng hiện được bảo quản tại kho vật chứng chỉ cục thi hành án thành phố Vinh.
Đối với số tiền 5.000.000 đồng là tiền người tên T chuyển cho bị cáo để mua ma túy và thuê xe và thành phố V, bị cáo đã dùng 4.000.000 đồng để mua ma túy, còn lại 1.000.000 bị cáo sử dụng để trả tiền thuê xe vào thành phố V chưa sử dụng, quá trình điều tra cơ quan điều tra không thu giữ số tiền này, nên cần truy thu tại bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.
[2.5]. Đối với người đàn ông tên T quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án này. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh là rõ và xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với chị Lê Thị L1 là người được T nhờ chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản của L và anh Vũ Văn T1 là người nhận chuyển khoản 4.500.000 đồng của L, để L lấy tiền mặt. Quá trình điều điều tra, Cơ quan điều tra xác định chị L1 và anh T1 không biết số tiền trên là để mua ma túy nên chị L1 và anh T1 không phạm tội.
Đối với anh Nguyễn Văn Đ1 là người điều khiển xe taxi BKS 37A-830.72 chở L vào thành phố V nhưng anh Đ1 không biết L tàng trữ trái phép chất ma túy nên không phạm tội.
[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Đặng Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, dán kín thu giữ của Đặng Văn L; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu vàng đã qua sử dụng. Vật chứng hiện có tại, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/10 ngày 13 tháng 10 năm 2023.
Truy thu tại bị cáo Đặng Văn L số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Văn L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy |
Bản án số 327/2023/HS-ST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 327/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 17 giờ 35 phút, ngày 24/6/2023, tại sân để xe trước cổng khách sạn 37 Dragon thuộc xóm 2, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Đặng Văn Linh có hành vi tàng trữ trái phép 1,589 gam ma túy (MDMA) và 1,213 gam ma túy Ketamine mục đich để sử dụng thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vinh kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của Đặng Văn Linh đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
