|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 327/2024/DS-PT
Ngày 23-8-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng
Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang
Ông Hồ Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2024/TLPT- DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 96/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hiền P, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số A, đường Đ, khóm E, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Minh H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số B, đường C, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hiền T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Văn Minh V, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
- Bà Trần Thanh T1, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lưu Văn Minh V1, bà Trần Thanh T1: Ông Nguyễn Hiền T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
3. Bà Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu phố A, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
4. Bà Nguyễn Ngọc M (Nguyễn Thị Ngọc M1), sinh năm 1952. Địa chỉ: Số A AT10, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
5. Bà Võ Phong S, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số A Đ, khóm E, phường A, thành phố C (Vắng mặt).
6. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hiền P là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Hiền P và người đại diện theo ủy quyền ông Đặng Minh H trình bày:
Cha mẹ ông P có phần đất diện tích là 13.300 m², tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Khoảng năm 1995 cha mẹ của ông P thỏa thuận với chị ruột ông P là bà T2 đổi phần đất này với căn nhà của bà T2 đang ở tại số F, đường P, phường B, thành phố C. Năm 1996, bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất diện tích là 13.300 m²; Đến năm 2001 do sử dụng đất không hiệu quả nên bà T2 kêu bán và ông P mua lại với giá 01 lượng vàng 24K. Ngày 10/9/2002 ông P được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V677813, diện tích là 13.300 m². Sau khi quản lý một thời gian, ông P cho thuê lại phần đất này. Từ cuối năm 2002 đến cuối tháng 03/2005 khi hợp đồng thuê đất giữa ông P với người thuê đất hết hạn thì ông T gặp ông P hỏi mượn phần đất. Ông P đồng ý cho ông T mượn đất canh tác đến cuối năm 2009 thì sẽ lấy lại để sử dụng. Sau khi ông T quản lý, canh tác trên phần đất này đến cuối năm 2009 thì ông P gặp ông T yêu cầu trả lại phần đất trên để ông P canh tác nhưng ông T không đồng ý và cho rằng phần đất này là của cha mẹ để lại chứ không phải của ông P. Từ năm 2009 đến nay ông P có yêu cầu trả lại đất nhiều lần nhưng ông T vẫn không thực hiện. Nay ông P yêu cầu ông T và bà T1 tháo dỡ toàn bộ công trình kiến trúc trên đất di dời đi nơi khác và trả lại cho ông P phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích là 11.293,2 m².
Bị đơn ông Nguyễn Hiền T trình bày:
Phần đất tranh chấp trước đây là do ông bà nội là cụ Nguyễn Văn C (chết năm 2001) khai hoang lập nghiệp sinh sống. Đến năm 1976 cụ C chia thừa kế cho các con, trong đó chia cho cha ông là cụ Nguyễn Hiền Đ (chết năm 2004) phần diện tích là 13.300 m². Sau đó, cụ Đ giao cho anh ruột của ông là ông Nguyễn Hiền T3 canh tác đất. Năm 1981 ông T3 sang Mỹ định cư nên cha ông tiếp tục canh tác trên phần đất này. Đến năm 1991 do tuổi cao sức yếu nên cha ông trở về thành phố C sinh sống và giao lại phần diện tích đất trên cho chị của ông là bà T2 để tiếp tục canh tác. Cùng thời điểm này bà T2 kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 13.300 m². Đến năm 1992 do canh tác không hiệu quả nên bà T2 chuyển ra thành phố C sinh sống. Từ năm 1993 đến 1997 phần đất này bỏ hoang không có ai canh tác nên cha ông kêu anh ruột ông là ông Nguyễn Hiền P canh tác. Đến năm 2002 ông P yêu cầu bà T2 chuyển tên quyền sử dụng đất lại cho ông P để tiện giao dịch được bà T2 đồng ý. Việc chuyển tên quyền sử dụng đất từ bà T2 lại cho ông P thì ông và một số anh chị em khác không biết. Trong năm 2002 ông P sang Mỹ nên ông tiếp tục canh tác, sử dụng cho đến nay. Trong quá trình quản lý đất, ông đã cải tạo, đầu tư nuôi trồng thủy sản, xây dựng căn nhà cấp 4, thờ cúng chăm sóc phần mộ ông bà, mua điện, khoan giếng nước, phát hoang, trồng cây ăn trái và đã đăng ký hộ khẩu thường trú. Năm 2014, ông đại diện anh chị em ruột bán căn nhà số F đường P, phường B, thành phố C để chia tiền, mỗi người được 450.000.000 đồng và khi đó ông P cũng ký nhận vì là tài sản của cha mẹ để lại. Phần đất tranh chấp là của cha mẹ để lại cho các anh chị em thì mọi người có quyền thừa hưởng chứ không phải của một mình ông P. Các anh chị em cử ông đến phần đất này ở để trông coi mồ mã, cải tạo đất vì các anh em ruột không có ai sống tại địa phương. Việc ông P cho rằng canh tác ổn định từ năm 2009 là không có cơ sở vì ông P đã sang Mỹ từ năm 2002. Nay ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, yêu cầu được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m² để thờ cúng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc T2 trình bày:
Trước đây bà sinh sống cùng với cha mẹ tại căn nhà số F đường P, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Do hoàn cảnh khó khăn nên cha cho bà về ở canh tác trên phần đất có diện tích là 13.300 m² ở ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do điều kiện đi lại khó khăn nên cha kêu bà đăng ký kê khai phần đất này và bà đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/4/1996. Do canh tác đất không hiệu quả nên bà đi nơi khác sinh sống, sau đó cha của bà cho ông P vào ở canh tác trên phần đất này. Để tiện lợi cho việc giao dịch của ông P và được sự đồng ý của cha nên bà làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng phần đất trên cho ông P đứng tên, bà xác định việc bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như ông P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đại diện cho cha bà chứ phần đất này thuộc quyền sử dụng của cha bà, bà chỉ chuyển cho ông P đại diện đứng tên chứ không có chuyển nhượng cho ông P. Vì vậy, bà không đồng ý với yêu cầu của ông P, yêu cầu tiếp tục giao phần đất tranh chấp cho ông T quản lý sử dụng đất để thờ cúng cha mẹ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc M1 trình bày:
Trước đây, bà sinh sống ở tỉnh Bạc Liêu nên không biết việc cha cho bà T2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất có diện tích là 13.300 m² ở ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau, cũng như việc bà T2 chuyển tên quyền sử dụng cho ông P. Bà xác định việc bà T2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng cũng như ông P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng là đại diện cho cha bà chứ phần đất này thuộc quyền sử dụng của cha bà. Vì vậy, bà không đồng ý với yêu cầu của ông P, giao lại phần đất cho tất cả anh chị em cùng sử dụng vào việc thờ cúng.
Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hiền P đối với ông Nguyễn Hiền T.
Buộc ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hiền P số tiền là 644.300.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu ba trăm nghìn đồng) tương đương với giá trị của phần đất diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m².
Giao cho ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 được tiếp tục quản, lý sử dụng phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m², cùng căn nhà trên đất diện tích là 320,9 m², hồ nước, giếng khoan và toàn bộ các công trình xây dựng, kiến trúc, tất cả các cây trồng trên đất, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Giao cho ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 tiếp tục chăm sóc, tu bổ, thờ cúng phần nhà mồ.
Phần đất có vị trí tứ cận như sau:
Phía Đông giáp phần đất của ông Phan Văn L cạnh M4M5 dài 127,86m, cạnh M3M4 dài 38,93m và giáp phần đất của ông Nguyễn Thế V2 cạnh M2M3 dài 89,14m;
Phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Minh C1 cạnh M1M11 dài 89,65m và giáp phần đất của ông Phan Văn H1 cạnh M10M11 dài 119,96m;
Phía Nam giáp lộ xi măng cạnh M7M8 dài 34,79m;
Phía Bắc giáp phần đất ông Nguyễn Văn S1 cạnh M1M2 dài 76,55m.
Tổng diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m².
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 08/6/2018 của Trung tâm K).
Ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 có quyền đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký chuyển tên quyền sử dụng phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m² theo quy định.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 21 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn là ông Nguyễn Hiền P có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn và những người có liên quan ở trên đất tháo dỡ toàn bộ công trình kiến trúc, cây trồng đi nơi khác, trả phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m² cho nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Minh H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn ông Nguyễn Hiền T không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: đã được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Hiền P, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hiền P, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Hiền P kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn và những người có liên quan ở trên đất tháo dỡ toàn bộ công trình kiến trúc, cây trồng đi nơi khác, trả phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m² cho nguyên đơn.
[1.2] Ông P xác định nhận chuyển nhượng phần đất này từ bà T2 với giá 01 lượng vàng 24K, ông T và bà M1 trình bày không biết sự việc này. Bà T2 xác định có làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất cho ông P nhưng chuyển với mục đích cho ông P quản lý sử dụng vào mục đích hương hỏa chứ không phải chuyển nhượng như ông P trình bày. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T2 đã được xem “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 26/3/2001 và “giấy chuyển quyền sử dụng đất” ngày 05/3/2001 thì bà T2 xác định cả hai giấy này có chữ ký của bà và chồng bà là ông Lê Trung L1 ký tên người chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cả hai giấy này thể hiện bà T2 chuyển nhượng phần đất trên cho ông P. Bà T2 trình bày việc chuyển tên là làm theo yêu cầu của cụ Đ, vợ chồng bà có ký tên vào giấy nhưng không biết nội dung. Bà T2 cho rằng việc bà chuyển quyền sử dụng đất lại cho ông P là chuyển quyền quản lý, canh tác và việc để ông P đứng tên quyền sử dụng đất là cho tiện giao dịch với Nhà nước, chứ hoàn toàn không có sự việc bà bán lại cho ông P phần đất với giá 01 lượng vàng 24K như ông P trình bày. Tuy nhiên, bà T2 thừa nhận chữ ký tại giấy tay chuyển quyền sử dụng đất ngày 05/3/2001 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/3/2001 của vợ chồng bà, ngoài ra bà T2 cũng không có chứng cứ gì chứng minh việc xác lập hợp đồng trên là trái ý muốn của bà. Vì vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/3/2001 giữa bà T2 và ông P đương nhiên có giá trị pháp lý. Do đó có cơ sở xác định bà T2 đã làm hợp đồng chuyển nhượng phần đất cho ông P và ông P đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/02/2002 là thực tế có xảy ra. Xét thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T2 và từ bà T2 chuyển cho ông P là hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.
Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà T2 cho ông P là hợp pháp và ông P đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật nên ông P là người có quyền sử dụng đối với phần đất này. Do đó việc ông P yêu cầu ông T và bà T1 trả phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 11.293,2 m² là có căn cứ.
[1.3] Tuy nhiên đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ:
Từ khi nhận chuyển nhượng đất đến nay ông P không trực tiếp quản lý sử dụng đất. Khi bà T2 nhận được sự giao quyền quản lý phần đất trên từ cụ Đ và sau đó chuyển nhượng lại cho ông P thì hiện trạng phần đất là đất nông nghiệp, không có nhà cửa, công trình xây dựng, cây trồng.
Khi ông T quản lý sử dụng đất từ năm 2005 và đã xây dựng nhà ở ổn định, cải tạo đất, trồng cây và đào ao nuôi tôm. Thực tế hiện nay ông T là người đang quản lý, sử dụng đối với phần đất này, ông T cũng đã xây dựng nhà kiên cố và ở ổn định, bỏ công sức đầu tư và cải tạo đất, trồng cây, cũng như chăm sóc, tu bổ mồ mã của dòng họ. Do vậy cần thiết để cho ông T và vợ là bà T1 tiếp tục quản lý, sử dụng đất là phù hợp.
Nhưng như đã nhận định ở mục [1.2] có căn cứ xác định đây là đất của ông P nên cần buộc ông T, bà T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho ông P giá trị phần đất tranh chấp diện tích là 11.293,2 m² theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T4 với số tiền là 644.300.000 đồng. Án sơ thẩm giao cho ông T và bà T1 được tiếp tục sử dụng phần đất diện tích là 11.293,2 m² buộc hoàn trả lại giá trị đất là có cơ sở.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng án sơ thẩm căn cứ kết quả định giá đất từ năm 2019 để buộc bị đơn ông T hoàn trả là không phù hợp, thấp so với giá trị đất hiện tại. Nếu nguyên đơn nhận đất và hoàn trả giá trị nhà cho bị đơn thì giá trị nhà như vậy là quá cao.
Xét trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại đơn kháng cáo nguyên đơn ông P không đặt ra ý kiến, yêu cầu gì đối với kết quả định giá. Tại cấp sơ thẩm phía ông P cũng đã có ý kiến thống nhất với kết quả định giá. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn ông T cũng không thống nhất cho định giá lại nên yêu cầu định giá lại của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là người kháng cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới ngoài các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét như đã nhận định.
[4] Từ những nhận định trên, bản án sơ thẩm tuyên xử là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hiền P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên nguyên đơn phải chịu theo qui định, nhưng ông P đã có đơn yêu cầu xin miễn án phí và thuộc trường hợp được miễn án phí theo qui định nên được chấp nhận.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hiền P.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hiền P đối với ông Nguyễn Hiền T.
Buộc ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hiền P số tiền là 644.300.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu ba trăm nghìn đồng) tương đương với giá trị của phần đất diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m².
Giao cho ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 được tiếp tục quản, lý sử dụng phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m², cùng căn nhà trên đất diện tích là 320,9 m², hồ nước, giếng khoan và toàn bộ các công trình xây dựng, kiến trúc, tất cả các cây trồng trên đất, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Giao cho ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 tiếp tục chăm sóc, tu bổ, thờ cúng phần nhà mồ.
Phần đất có vị trí tứ cận như sau:
Phía Đông giáp phần đất của ông Phan Văn L cạnh M4M5 dài 127,86m, cạnh M3M4 dài 38,93m và giáp phần đất của ông Nguyễn Thế V2 cạnh M2M3 dài 89,14m;
Phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Minh C1 cạnh M1M11 dài 89,65m và giáp phần đất của ông Phan Văn H1 cạnh M10M11 dài 119,96m;
Phía Nam giáp lộ xi măng cạnh M7M8 dài 34,79m;
Phía Bắc giáp phần đất ông Nguyễn Văn S1 cạnh M1M2 dài 76,55m.
Tổng diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m².
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 08/6/2018 của Trung tâm K).
Ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 có quyền đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký chuyển tên quyền sử dụng phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 11.293,2 m² theo quy định.
2. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 trả lại cho ông Nguyễn Hiền P số tiền là 13.740.000 đồng (Mười ba triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày ông Nguyễn Hiền P có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 không thi hành thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ông Nguyễn Hiền T và bà Trần Thanh T1 phải chịu số tiền là 29.772.000 đồng (Hai mươi chín triệu bảy trăm bảy mươi hai nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.
Ông Nguyễn Hiền P không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền dự nộp tạm ứng án phí là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai số 0003859, ngày 10/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
4. Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Hiền P được xét miễn nộp theo quy định do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Minh Hoàng |
Bản án số 327/2024/DS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 327/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
