|
TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 327/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23/7/2024
“V/v: Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc S, ông Vương Đình Q
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 435/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2023, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966 - Có mặt
Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1970 – Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Số F ngõ A phố T, TDP số 9 Đ, phường M, quận N, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông và bà Phạm Thị Thu H1 kết hôn vào năm 1993. Việc kết hôn là tự nguyện, có đăng ký kết hôn và tuân thủ đầy đủ các điều kiện về kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại số F ngõ A phố T, phường M, quận N, Hà Nội. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì ông phát hiện bà H1 có vay nợ bên ngoài nhiều, ông H có hỏi bà H1 về việc vay tiền thì bà H1 nói vay tiền để cho vay lại kiếm chút lãi nhưng bà H1 cũng không nói cho ai vay và không có bằng chứng cho ai vay, sau khi bị người khác đến đòi tiền thì ông H phải trả nợ thay cho bà H1 nhiều lần. Vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, ông H có 2 lần mua xe máy cho bà H1 để phục vụ đi lại nhưng bà H1 đều bán lấy tiền. Ông H rất bức xúc và có khuyên bà H1 không nên vay nợ nữa nhưng bà H1 không nghe, năm 2019 phía đòi nợ có đến nhà đòi bà H1 trả tiền, ông H biết nhưng không trả nợ thay cho bà H1 nữa. Gia đình ông H đều biết sự việc và có khuyên ông H nên giải quyết dứt điểm vì nếu có ở với nhau sẽ sống trong sự bất ổn và ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần của các con. Ngoài ra, quá trình chung sống ông H và bà H1 không có sự chia sẻ. Bản thân ông H đã nhiều lần có ý định làm đơn ly hôn với bà H1, nhưng ông H nghĩ đến các con nên chưa làm đơn ly hôn. Ông H và bà H1 ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay ông H xác định không còn tình cảm với bà H1 đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
Về con chung: Ông H, bà H1 có 04 con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 07/6/1994; Nguyễn Lan A1, sinh ngày 01/8/1997; Nguyễn Hiền T, sinh ngày 06/8/2006; Nguyễn Lâm S, sinh ngày 24/12/2010. Hiện nay cháu Nguyễn Hải A và Nguyễn Lan A1 đã trưởng thành nên không đề cập. Ly hôn, ông và bà H1 thỏa thuận giao hai con chung là Nguyễn Hiền T và Nguyễn Lâm S cho bà H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con ông chu cấp 10.000.000đ/tháng/2 con (mỗi con 5.000.000đ).
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn – bà Phạm Thị Thu H1 trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian mâu thuẫn cũng như ly thân theo ông H trình bày là đúng. Quá trình chung sống, bà H1 có biết ông H có quan hệ ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác, ông H trình bày bà H1 vay nợ bên ngoài nhưng ông H không tìm hiểu kỹ vì sao bà H1 vay nợ, bà H1 vay chỉ vì con cái mà không nghĩ tới bản thân. Vợ chồng mâu thuẫn, cãi nhau rất nhiều, vợ chồng ly thân từ năm 2019 cho đến nay, ông H đã chuyển ra ngoài sinh sống. Bà H1 xác định không còn tình cảm với ông H, nhưng do vợ chồng chưa thống nhất được việc phân chia tài sản chung nên bà chưa thuận tình ly hôn.
Về con chung: Ông H, bà H1 có 04 con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 07/6/1994, Nguyễn Lan A1, sinh ngày 01/8/1997, hai con đã trưởng thành nên không đề cập. Còn Nguyễn Hiền T, sinh ngày 06/8/2006 và Nguyễn Lâm S, sinh ngày 24/12/2010. Ly hôn, vợ chồng cùng thỏa thuận giao cho tôi trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000đ/ 2 con/tháng. Đến nay bà và ông H chưa thống nhất được mức cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông H được ly hôn với bà H1. Bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát quận N phát biểu: Thẩm phán đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo quy định của pháp luật trong cả quá trình từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn thời gian đầu chấp hành đúng các quy định của BLTTDS. Tại phiên tòa mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xử chấp nhận đơn xin ly hôn của ông H, cho ông H được ly hôn bà H1. Giao 02 con chung là Nguyễn Hiền T, sinh ngày 06/8/2006 và Nguyễn Lâm S, sinh ngày 24/12/2010 cho bà H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Buộc ông H phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn H khởi kiện về việc xin ly hôn với bà Phạm Thị Thu H1. Tại thời điểm ông H gửi đơn khởi kiện, ông H và bà H1 đều đang cư trú tại số F ngõ A phố T, phường M, N, Hà Nội nên Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bà
V nội dung: Ông H, bà H1 kết hôn vào năm 1993 tại UBND xã M, huyện T, Hà Nội (nay là phường M, quận N, Hà Nội), việc kết hôn là tự nguyện, có đăng ký kết hôn và tuân thủ đầy đủ về điều kiện kết hôn nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Xét đơn ly hôn của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ, lời khai do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và trình bày thể hiện: Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông H cho rằng bà H1 phá tán tài sản, nợ nần nhiều người, ông phải trả nợ thay rất nhiều. Mỗi lần trả nợ bà H1 đều hứa sẽ thay đối. Còn bà H1 cho rằng số tiền vay nợ bà đều phục vụ cuộc sống chung của gia đình. Cả ông H và bà H1 đều xác định đến nay tình cảm vợ chồng không còn, bà không đồng ý ly hôn là vì vợ chồng chưa thống nhất được việc phân chia tài sản. Như vây, mâu thuẫn giữa ông H và bà H1 đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của hai người hiện nay chỉ tồn tại trên hình thức. Xét đơn xin ly hôn của ông H là có căn cứ cần được chấp nhận.
Về con chung: Ông H, bà H1 có có 04 con chung là Nguyễn Hải A, sinh ngày 07/6/1994; Nguyễn Lan A1, sinh ngày 01/8/1997; Nguyễn Hiền T, sinh ngày 06/8/2006; Nguyễn Lâm S, sinh ngày 24/12/2010. Các con Hải A và Lan A1 đã trưởng thành nên không đề cập. Còn 02 con T và S, ông, bà thống nhất giao cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 10.000.000đ/02 con/tháng. Xét sự thỏa thuận này là tự nguyện nên được ghi nhận.
Về tài sản chung, công nợ và các quan hệ khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân giữa ông H, bà H1 do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 28, 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Văn H. Cho ông Nguyễn Văn H được ly hôn bà Phạm Thị Thu H1.
Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Hiền T, sinh ngày 06/8/2006 và Nguyễn Lâm S, sinh ngày 24/12/2010 cho bà Phạm Thị Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng 02 con Nguyễn Hiền T và Nguyễn Lâm S là 10.000.000 đồng/tháng/02 cháu (mỗi con 5.000.000đ/ tháng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 07/2024 cho đến khi cả 02 con Nguyễn Hiền T và Nguyễn Lâm S đủ 18 tuổi hoặc có sự thoả thuận thay đổi khác.
Ông Nguyễn Văn H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ và các quan hệ khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân giữa ông H, bà H1 do các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Buộc ông H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận ông đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009035 ngày 24/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận N. Buộc ông H phải nộp tiếp 300.000đ.
Đương sự có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 327/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về ly hôn
- Số bản án: 327/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hương _ Hiền
