Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 327/2024/HS-ST

Ngày 12-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên toà: ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 321/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 339/2024/QĐXXST-HS ngày 29/10/2024 đối với bị cáo:

Lưu Tấn T, sinh năm 1962 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số B N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 32/36/36, đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1927 (đã chết) và bà Lưu Thị C1, sinh năm 1932 (đã chết); bị cáo có 04 anh, chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1956, nhỏ nhất bị cáo; bị cáo có vợ Bùi Thị O, sinh năm 1960, có hai con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 30/4/2024, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1990; địa chỉ: Số F, đường Q, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Trung D1, sinh năm 1982, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Tấn T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng giữa tháng 6 năm 2024, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine).

Khảng 19 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, Lưu Tấn T đi bộ từ nhà tại số C đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đến gần cầu B thuộc Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, T gặp người đàn ông tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), hỏi mua 30 gam ma túy đá với số tiền 4.500.000 đồng. Sau đó, T1 hướng dẫn T tới thành cầu B để lấy ma túy. Tới nơi, T thấy 01 khẩu trang y tế màu xanh, gói bên trong là 03 (ba) túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng (T khai là ma túy đá). T lấy tất cả số ma túy và bỏ vào trong túi quần bên phải mà T đang mặc, rồi đi về nhà. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T lấy 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy và lấy một ít ma túy ra để sử dụng một mình tại nhà. Số ma túy còn lại trong túi nylon, T dùng bật lửa hàn kín lại và giấu trong khẩu trang màu xanh, bỏ vào lại trong túi quần bên phải, treo ở cửa bếp. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/4/2024, T bắt hai con gà mà T đang nuôi, mặc lại quần có cất giấu ma túy trong túi và đi ra bến xe M thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp Nguyễn Trung D1, sinh năm 1982; thường trú: số F đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là bạn của T, để nhờ D1 chở qua huyện L, tỉnh Đồng Nai bán hai con gà. D1 dùng xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại SH150, màu trắng đen, biển số 59VA-141.60, số khung RLHKF1102AY002363, số máy KF08E5002374KTGE1 để chở T đi bán. Khi T và D1 đi đến trước nhà số C đường Đ, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì gặp tổ tuần tra Công an phường B, yêu cầu T và D1 dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T lấy từ trong túi quần bên phải mà T đang mặc trên người ra 02 (hai) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, tất cả được quấn trong khẩu trang y tế màu xanh, T khai nhận tất cả là ma túy đá, Công an phường B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

  • + 02 (hai) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng;
  • + 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng;
  • + 01 (một) khẩu trang màu xanh;
  • + 02 (hai) con gà không rõ trọng lượng;
  • + 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại SH150, màu trắng đen, biển số 59VA-141.60, số khung RLHKF1102AY002363, số máy KF08E5002374KTGE1.

Căn cứ bản Bản kết luận giám định số 2160/KL-KTHS(MT) ngày 08/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 19,9751 gam (M1); 9,9462 gam (M2); 10,0469 gam (M3).

Cáo trạng số 320/CT - VKS - DA ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lưu Tấn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Tấn T mức án từ 11 năm đến 12 năm tù.

Xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 2160/PC09 bên trong chứa M1=19,7328 gam; M2=9,7968 gam; M3=9,9669 gam, có tổng khối lượng còn lại sau giám định là: 39,4965 gam cần tịch thu tiêu hủy và 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh T sử dụng để gói ma túy, không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy;
  • + Đối với 02 (hai) con gà không rõ trọng lượng, đây là tài sản của Lưu Tấn T, không liên quan đến hành vi phạm tội của T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho Lưu Tấn T;
  • + Đối với xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại SH150, màu trắng đen, biển số 59VA-141.60, số khung RLHKF1102AY002363, số máy KF08E5002374KTGE1 là tài sản của anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1990, thường trú: số F đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, anh Nguyễn Trung D1 mượn xe của anh D đi công việc, anh D không biết D1 mượn xe đi đâu, làm gì, với ai. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả xe mô tô trên cho anh D.

Đối với người đàn ông tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), đã bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với Nguyễn Trung D1, người đã chở T đi đi bán gà, do D1 không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy và không liên quan gì đến hành vi của T, nên không xử lý.

Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu, thống nhất với kết luận giám định, bản luận tội của kiểm sát viên, bị cáo không trình bày ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 30/4/2024, tại trước nhà số C, Đường Đ, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Lưu Tấn T đã có hành vi tàng trữ 39,9682 gam ma túy đá, loại Methamphetamine.

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng với khối lượng 39,9682 gam ma túy đá, loại Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 320/CT - VKS - DA ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) bì thư được phòng K niêm phong có ghi ký hiệu 2160/PC09, bên trong chứa M1 =19,7328 gam, M2 = 9,7968 gam, M3 = 9,9669 gam ma túy, loại Methamphetamine cần tịch thu tiêu hủy và 01 một khẩu trang y tế màu xanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • + 02 (hai) con gà không rõ trọng lượng là tài sản của Lưu Tấn T, không liên quan đến hành vi phạm tội của T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho Lưu Tấn T là phù hợp với quy định của pháp luật.
  • + 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại SH150, màu trắng đen, biển số 59VA-141.60, số khung RLHKF1102AY002363, số máy KF08E5002374KTGE1 là tài sản của anh Nguyễn Thanh D, anh Nguyễn Trung D1 mượn xe của anh D đi công việc, anh D không biết D1 mượn xe đi đâu, làm gì, với ai; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả xe mô tô trên cho anh D là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Đối với người đàn ông tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), đã bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Đối với Nguyễn Trung D1, người đã chở T đi bán gà, do D1 không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy và không liên quan gì đến hành vi của T, nên không xử lý là phù hợp.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, việc xử lý vật chứng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lưu Tấn T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lưu Tấn T 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024.

  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy:

    01 (một) bì thư đã được phòng K niêm phong có ghi ký hiệu 2160/PC09, bên trong chứa M1 =19,7328 gam, M2 = 9,7968 gam, M3 = 9,9669 gam ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định và 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh (theo biên bản đóng gói niêm phong và kết luận giám định số 2160/KL-KTHS (MT) ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B).

    (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Lưu Tấn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 327/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 327/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Tấn T phạm tội tàng trử trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger