Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 327/2024/DS-PT

Ngày 19-7-2024

V/v tranh chấp QSDĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân

Bà Phạm Ngọc Giàu

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024, của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2024/QĐPT-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1973
    2. Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1977
    3. Chị Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 2000
    4. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 2002

    Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh L, anh P, bà T, chị T1, là Ông Trần Văn T2, sinh năm 1983; nơi cư trú: số A 5, P, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; theo văn bản ủy quyền ngày 20-5-2023; có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1965

    Bà Nguyễn Thị Kim Ú, sinh năm 1964

    Cùng cư trú: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Phan Văn V, sinh năm 1957; nơi cư trú: khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, theo văn bản ủy quyền ngày 21-5-2024; có mặt.

  3. Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú.
  4. Viện kiểm sát kháng nghị: không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Nguyễn Văn N1 (chết ngày 11/11/2019) chung sống có 03 người con chung gồm: Nguyễn Tấn P, Nguyễn Thị Ngọc T1, Nguyễn Văn L. Sau khi ông N1 chết, bà T cùng các con không làm thủ tục nhận thừa kế được do vợ chồng ông N, bà Ú cất nhà lấn qua đất của ông N1 có chiều ngang khoảng 2,2m x dài hết đất. Bà T cùng các con nhiều lần yêu cầu tháo dỡ nhà trả lại đất nhưng vợ chồng ông N không đồng ý. Do đó, bà T cùng các con khởi kiện.

Về nguồn gốc đất của cụ ông Nguyễn Văn T3 và cụ bà Nguyễn Thị K (cha, mẹ chồng bà T) chết để lại chia cho 03 người con gồm: ông Nguyễn Văn V1, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Văn N. Ngày 16/12/2002 ông N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00037 QSDĐ/375/QĐ-CT (HL) thửa đất 86, tờ bản đồ số 15, diện tích 325m².

Trước khi phân chia đất, vợ chồng ông N có xây một căn nhà cấp 4 (không kiên cố) trên đất. Khi phân chia đất thì cả 03 anh em ông V1, ông N1, ông N đều biết nhà của ông N, bà Ú nằm trên đất của ông N1 chiều ngang khoảng 2,2m. Vào thời điểm đó, anh em đều khó khăn nên ông N1 vẫn để cho ông N sử dụng khi nào ông N xây nhà mới thì trả đất. Cách đây khoảng 02 – 03 năm, vợ chồng ông N xây nhà mới trên phần đất ông N được chia (ngoài phần đất tranh chấp) nhưng không tháo dỡ căn nhà cũ để trả đất. Nguyên đơn yêu cầu buộc vợ chồng ông N tháo dỡ nhà trả lại khoảng 59m² đất.

Ngày 18/3/2024, nhận được Bản vẽ Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH X – Chi nhánh T4 đo đạc thể hiện, thửa đất số 86, tờ bản đồ số 15 của ông N1 đã bị vợ chồng ông N sử dụng diện tích 59.8m². Người đại diện của nguyên đơn đề nghị giải quyết bổ sung: buộc vợ chồng ông N tháo dỡ công trình trên đất trả lại phần đất có diện tích 59.8m² cho bà T và các con. Nguyên đơn đồng ý bồi thường tài sản trên đất cho vợ chồng ông N gồm 02 căn nhà giá trị là 63.282.075 đồng.

Bị đơn ông N, bà Ú trình bày: cụ Nguyễn Văn T3, chết ngày 11/03/1991 và cụ bà Nguyễn Thị K, chết vào tháng 9/1997 (cha, mẹ ông N) có 04 người con: Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn V1, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn N1. Cha mẹ chết không để lại di chúc.

Nguồn gốc đất do cha mẹ tạo lập. Lúc cụ K còn sống chia đất cho các con nhưng không làm giấy, cụ thể: một thửa đất chia cho ông N, ông N1, ông V1; ông N1 con trai út nên ở chung nhà với mẹ; ông V1 và ông N xây nhà ở riêng. Căn nhà của ông được xây dựng vào năm 1997 do cụ Kim chỉ ranh, không có ai ngăn cản hay tranh chấp gì; ranh đất giữa đất ông và ông Nghĩa 1 vách tường nhà của ông. Phần đất của ông N1, không có cắm trụ ranh, không hàng rào; sau khi ông N1 chết được khoảng 02 năm thì bà T cho rằng vợ chồng ông lấn đất của ông N1 khoảng 59m².

Đến năm 2002, ông N, ông N1, ông V1 tự phân chia đất và được cấp giấy cùng một lượt. Ông N được cấp diện tích 349m²; lúc làm thủ tục địa chính xã không có đo đất theo hiện trạng sử dụng thực tế; tự chia cắt trên giấy tờ. Từ năm 2002 đến nay, không ai tranh chấp. Phần đất của ông có chiều ngang 15m thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 15, diện tích 349m² được Ủy ban nhân dân huyện H (nay

thị xã H) cấp ngày 16/12/2002. Sau khi thẩm định ông xác định lại phần đất ông có chiều ngang 12.22m, tổng diện tích là 312m² thuộc thửa 111 và phần đất có chiều ngang 2.53m, dài hết đất có tổng diện tích 59.8m² thuộc thửa 86 là đất của ông. Ông không đồng ý trả đất cho bà T và các con, không đồng ý nhận tiền bồi thường.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Tấn P, Nguyễn Thị Ngọc T1 và Nguyễn Văn L đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú trả lại phần đất có diện tích: 59.8m² (ngang 2,53m, chiều dài giáp thửa 111(đất ông N) 24.04m; chiều dài giáp bà T 23.94m), thuộc thửa 86, tờ bản đồ số 15; tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, do ông N1 đứng tên, cho bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L được quyền sử dụng.
  3. Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú tháo dỡ (phá bỏ) 02 căn nhà xây dựng trên đất: 01 căn nhà tường cấp 4 ngang 4,8m x dài 11,44m = 54,72m². 01 Nhà tường sau (nhà tạm) có diện tích ngang 4.9m x dài 5,1m = 24,99m², để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L.
  4. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú giá trị 02 căn nhà là: 63.282.075 (sáu mươi ba triệu hai trăm tám mươi hai nghìn không trăm bảy mươi lăm) đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đồng thời đề nghị hủy bản án sơ thẩm xét xử lại.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

  • + Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng những quy định pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: căn cứ giấy phân chia đất năm 2002 thì ông N1, ông V2, ông N mỗi người được chia một phần đất chiều ngang 12m. Phần đất ông N được cấp giấy chiều ngang 12,22m diện tích 349 m² (không bao gồm phần đất tranh chấp); phần đất tranh chấp do ông N1 đứng tên. Ông N cho rằng phần đất tranh chấp là của ông là không có căn cứ. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn thấy rằng.

[3.1] Nguồn gốc đất tranh chấp là của vợ chồng cụ Nguyễn Văn T3, chết 1991 và cụ bà Nguyễn Thị K, chết 1997 (cha, mẹ nguyên đơn, bị đơn) chết để lại, được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27-9-1995, thửa 227 tờ bản đồ 03 diện tích 962m² (400m² đất TC + đất vườn) do một mình cụ K đứng tên. Cụ T3 và cụ K chết không để lại di chúc.

[3.2] Lúc cụ K còn sống, có chỉ chỗ cho vợ chồng ông N xây nhà ở trên phần đất nêu trên vào năm 1997.

[3.3] Sau khi cụ K chết, ngày 10-12-2002, các con của cụ K lập văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận, cụ thể: ông Nguyễn Văn L2 được hưởng thừa kế phần đất diện tích 1.390 m² thửa số 34, tờ bản đồ số 03. Ông Nguyễn Văn V1, ông Nguyễn Văn N và ông Nguyễn Văn N1 được hưởng thừa kế phần đất diện tích 962m² thửa 227 tờ bản đồ 03 do cụ K đứng tên; trong đó: ông V2 được hưởng phần đất chiều ngang (lộ T) dài 12m, chiều dài hết đất, diện tích 228m²; ông N được hưởng phần đất chiều ngang (lộ T) dài 12m, chiều dài hết đất, thửa 111 tờ bản đồ 15 diện tích 349m²; ông N1 được hưởng phần đất chiều ngang (lộ T) dài 12m, chiều dài hết đất, thửa 86 tờ bản đồ 15 diện tích 325m² (nằm ở giữa ông V2 và ông N). Ông V1, ông N và ông N1 đã kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002.

Như vậy, di sản đã được chia xong, ông V1, ông N và ông N1 mỗi người được hưởng thừa kế chiều ngang giáp đường (lộ T) dài 12m, chiều dài hết đất.

[4] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất; phần đất bà T (vợ ông N1) đang quản lý sử dụng hướng nam giáp đường lộ T (nay là đường N) dài 10,79m, hướng bắc dài 10,80m. Phần đất vợ chồng ông N đang quản lý sử dụng hướng nam giáp đường lộ T (nay là đường N) dài 14,75m; hướng bắc dài 14,65m (không tính phần đất lấn sang thửa số 87). Phần đất tranh chấp nằm ở giữa do ông N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên đất có nhà ở của vợ chồng ông N.

[5] Các đương sự thừa nhận, nhà trên phần đất tranh chấp vợ chồng ông N xây dựng trước khi lập văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế. Tuy nhiên, khi phân chia thừa kế cán bộ địa chính đo đạc thực tế, ông N biết nhà của ông nằm trên đất của ông N1 được chia nhưng ông đồng ý và không có ý kiến gì; đồng thời, ông N hứa khi nào xây nhà mới đập bỏ nhà củ trả đất cho ông N1. Vợ

chồng ông N đã xây dựng nhà mới nằm ngoài diện tích đất tranh chấp cách đây 02-03 năm nhưng không đập bỏ nhà củ trả đất cho vợ, con ông N1. Vợ chồng ông N cho rằng đất tranh chấp là của ông là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc vợ chồng ông N trả lại đất cho vợ con ông Nghĩa 1 có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Khi thẩm định tại chỗ nguyên đơn chỉ ranh chiều ngang hướng nam giáp lộ T (nay là đường N) bị lấn chiếm 02m (10,79 m + 02m = 12,79 m); hướng bắc bị chiếm 02m (10,80 m + 02m = 12,8m).

Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc ông N, bà Ú trả lại cho bà T và các con phần đất tranh chấp diện tích: 59.8m² hướng nam giáp lộ T (nay là đường N) dài 10,79 m + 2,53m = 13,32m; hướng bắc dài 10,80 m + 2,47m = 13,27m. Phần còn lại của ông N hướng nam giáp lộ T (nay là đường N) dài 12,22m (không tính phần lấn sang thửa 87) là không đúng ranh giới do nguyên đơn chỉ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng ông N. Do đó, buộc vợ chồng ông N phải trả lại đất cho bà T và các con diện tích 47,7m2, hướng nam giáp lộ Trung Hòa (nay là đường N) dài 02m, hướng bắc dài 02m là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với sự thỏa thuận phân chia thừa kế giữa ông N1 và ông N.

[7] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn là có căn cứ nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Sửa bản án sơ thẩm.

[8] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm; xét thấy, có phần chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[9] Về tiền án phí dân sự sơ thẩm: ông N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ú là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0021487 ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành.

[10] Chi phí tố tụng: chi phí định giá tài sản là 2.300.000 đồng, chi phí đo đạc thẩm định là 23.172.000 đồng và 80.000 đồng chi phí sao lục hồ sơ, tổng cộng: 25.552.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu. Ghi nhận nguyên đơn đã nộp và chi phí xong. Buộc ông N, bà Ú phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà T, anh P, chị T1 và anh L số tiền 25.552.000 đồng.

[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của ông N, bà Ú được chấp nhận một phần, nên ông N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0011279 ngày 13-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành.

[12] Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú.
  2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú.
    2. Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú phải có nghĩa vụ trả lại phần đất có diện tích: 47,7 m² loại đất vườn nằm trong thửa 86, tờ bản đồ số 15, tại: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, cho bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L được quyền sử dụng. Có tứ cận: hướng Đông giáp thửa 111 đất của ông N dài 24,04m; hướng Tây giáp đất ông N1, bà T dài 23,94m; hướng Nam giáp đường L (nay là đường N) dài 02m; hướng Bắc giáp thửa 69 dài 02m.
    3. Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú tháo dỡ, phá bỏ, di dời 02 căn nhà và tài sản khác trên đất nêu trên để trả lại 47,7 m² đất cho bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L.
    4. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Ú giá trị hai căn nhà với số tiền là 63.282.075 (sáu mươi ba triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, không trăm bảy mươi lăm) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ cho phù hợp với quyết định này. (Có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 114/SĐ-HT-2023 do Công ty TNHH X – Chi nhánh T4 đo đạc kèm theo bản án này).
  4. Về tiền án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0021487 ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành.
  5. Chi phí tố tụng: buộc ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Kim Ú phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 và anh Nguyễn Văn L số tiền 25.552.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0011279 ngày 13-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành.
  7. Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND thị xã Hòa Thành, Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Hòa Thành;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

PHIẾU ĐỀ XUẤT TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ

– Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Phan Thanh Tùng

Được phân công giải quyết vụ án Dân sự thụ lý số: 588/TLPT-DS ngày 18-12-2023 về tranh chấp “Yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho QSDĐ, hợp đồng tin dụng” giữa:

  1. Nguyên đơn: ông Thái Công Trí
  2. Bị đơn: ông Thái Công Tín
  3. Người kháng cáo: ông Trí
  4. Viện kiểm sát kháng nghị: VKSND tỉnh Tây Ninh.

I. Tóm tắc nội dung vụ án:

Phần đất có diện tích 1.450 m² có nguồn gốc ông Bình và bà Khanh (là cha mẹ của ông Trí, ông Thành, ông Kiệt, anh Tín). Năm 2019 ông Bình chết; bà Khanh cùng 4 người con lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tặng cho bà Khanh; cùng ngày bà Khanh lập văn bản tặng cho 4 người con phần đất nêu trên và được cấp giấy đỏ ngày 19-5-2020. Trên phần đất diện tích 1.450 m² có nhà cấp 4 của ông Liệt và 02 ngôi mộ của ông, bà cố nguyên đơn và bị đơn.

Do cần vốn để làm ăn nên anh Tín yêu cầu các anh em cho mượn đất thế chấp cho ngân hàng vay tiền; thời hạn vay 06 tháng, số tiền vay tối đa không quá 1 tỷ đồng; Anh Tín làm văn bản cam kết ngày 20-10-2020 đối với các anh em. Hết thời hạn hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng.

Ngày 21-10-2020 ông Trí, ông Kiệt, ông Thành ký hợp đồng tặng cho phần đất nêu trên cho anh Tín. Nhưng trong hợp đồng không có các thỏa thuận trên.

Ngày 12-11-2020 anh Tín ký hợp đồng tín dụng vay ngân hàng Bản Việt số 2.050.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 1.450 m², hợp đồng chấp được công chứng đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh Hòa Thành ngày 13-11-2020.

  1. Hết thời hạn 06 tháng ông Trí kiện yêu cầu hủy hợp đồng.
  2. Ngân hàng bản Việt yêu cầu Tín trả nợ, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ.
  3. Anh Tín đồng ý hủy hợp đồng; không phát mãi tài sản thế chấp.

Tòa án thị xã Hòa thành xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trí công nhận hợp đồng tặng cho hợp pháp.
  2. Buộc Tín trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng hơn 02 tỷ đồng.

Ông Trí kháng cáo yêu cầu sửa án chấp yêu cầu khởi kiện.

VKSND tỉnh Tây Ninh kháng nghị: đề nghị sửa án về hợp đồng thế chấp.

II. Quan điểm của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa về việc giải quyết vụ án:

  1. Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có căn cứ xác định, phần đất diện tích 1.450 m² thuộc quyền sử dụng chung của 4 người gồm: ông Trí, ông Kiệt, ông Thành và anh Tín (Điều 209 của Bộ luật dân sự năm 2015).
  2. Trước khi ký hợp đồng tặng cho đất ông Tín ngày 21-10-2020; ông Trí, ông Kiệt, ông Thành biết ông Tín thế chấp cho Ngân hàng vay tiền, biết trước hậu quả của hợp đồng. Giao kết hợp đồng tự nguyện; nội dung, hình thức đúng, không vi phạm điều cấm.

Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Trí là có căn cứ, đúng luật.

  1. Đến hạn ông Tín không trả nợ cho Ngân hàng. Tòa án buộc ông Tín trả nợ cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ.
  2. Ngân hàng có yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định công nhận hợp đồng thế chấp hợp pháp, nhưng phần quyết định bản án không tuyên xử lý tài sản thế chấp nhận thế chấ như thế nào. Là giải quyết bỏ sót yêu cầu của đương sự. VKS kháng nghị đề nghị sửa bản án nhưng không nêu rõ sửa như thế nào, trong khi cấp sơ thẩm chưa giải quyết. Nếu bổ sung thêm vào ở cấp phúc thẩm thì mất quyền kháng cáo của anh Tín và Ngân hàng.

Trong khi đó trên đất thế chấp có nhà cấp 4 của ông Liệt (chú của nguyên đơn, bị đơn) xây dựng ở từ năm 2019 cho đến nay, Tín thế chấp ông Liệt không biết. Trên đất thế chấp có 04 mộ, nếu công nhận hợp đồng thế chấp không thể phát mãi tài sản được.

Đề xuất:

Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

IV. Ý kiến của UBTP

Thẩm phán

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 327/2024/DS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 327/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà thu khởi kiện yêu cầu ông Nhơn trả lại quyền sử dụng đất đã lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger