Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 327/2023/HS-ST

Ngày: 18 - 8 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn D - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 328/2023/HSST ngày 03 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Đăng K, sinh năm: 1995, tại Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: 167/15/11 Đường H, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Trần Xuân Q (©) và bà Lê Thị T, sinh năm 1961; bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh chị em; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Nữ Quốc V, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số A, Đường số H, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì động cơ vụ lợi bất chính nên vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 16/7/2023, Trần Đăng K đang đi bộ trên Đường số H, Khu phố A, phường L, thành phố T thì phát hiện cửa Nhà số 167/13/4, Đường số H, Khu phố A, phường L, thành phố T của chị Nguyễn N Quốc Văn không khóa, chị V đang ngủ và bên trong có đậu nhiều xe mô tô. K lẻn vào nhà dắt ra ngoài xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 92E1-146.09 có cắm sẵn chìa khóa thì bị chị V phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 274 ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 92E2-146.09 có giá trị là 12.500.000 đồng.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 92E1-146.09 là tài sản của chị Nguyễn Nữ Quốc V. Sau khi định giá xong, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị V.

Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Nữ Quốc V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 321/QĐ-VKS-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và đề nghị Tòa án:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đăng K từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất hối hận về hành vi tham lam nhất thời. Bị cáo mong Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị hại là chị Nguyễn Nữ Quốc V đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì khác và vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[3] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, Trần Đăng K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 92E1-146.09, trị giá 12.500.000 đồng của chị Nguyễn N Quốc Văn tại Nhà số A, Đường số H, Khu phố A, phường L, thành phố T thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng tham lam, lợi dụng sự sơ hở rồi cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, vì động cơ tham lam nhất thời. Bên cạnh đó, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Do đó, Tòa án áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển kiểm soát 92E1-146.09 đã trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Nữ Quốc V là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    • - Xử phạt bị cáo Trần Đăng K: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
    • - Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Đăng K, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
    • - Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
    • - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
    • - Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo)

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 327/2023/HS-ST ngày 18/08/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 327/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đăng K phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger