trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 327/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 6 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hoa
  2. Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 03 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 290/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thúy V, sinh năm 1996; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Tăng Văn L, sinh năm 1991; Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Cộng hòa liên bang Đ. Vắng mặt tại phiên tòa (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/03/2025, Bản tự khai ngày 14/4/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thúy V bày: Chị và anh Tăng Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02/04/2015 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sống tại xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến khoảng tháng 3/2022 anh L đi xuất khẩu lao động tại Cộng hoà liên bang Đ. Sau khi đi xuất khẩu lao động tại nước Đức, thời gian đầu anh L có liên hệ về cho chị và các con. Tuy nhiên, càng về sau tình cảm giữa chị và anh L dần xa cách, anh L ít khi liên hệ về cho chị, mỗi lần điện thoại về anh chị thường xuyên cãi vã và mâu thuẫn với nhau. Từ năm 2024 đến nay, anh L không còn liên lạc cho chị nữa mà chỉ liên lạc về cho chị gái anh L là chị Tăng Thị L1 (địa chỉ: xóm G, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An) để hỏi thăm tình hình con cái. Hiện nay, xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Tăng Văn L.

Tuy nhiên, do chị V và anh L đã lâu không liên lạc với nhau, anh L không nói cho chị địa chỉ cụ thể nên chị không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Tăng Văn L tại Cộng hòa liên bang Đ, mà chỉ biết anh L thường xuyên liên lạc với chị gái anh L là chị Tăng Thị L1 (địa chỉ: xóm G, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An). Do bố mẹ đẻ của anh L là ông Tăng Ngọc M và bà Lưu Thị Công Đ1 đã chết nên anh L chỉ liên lạc với chị L1 và chị L1 biết thông tin, địa chỉ cụ thể của anh L tại Cộng hòa liên bang Đ, nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Chị V và anh Tăng Văn L có 02 con chung là cháu Tăng Văn B, sinh ngày 03/10/2015 và cháu Tăng Thị M1, sinh ngày 03/10/2015. Hiện nay, các con chung đang ở với chị V. Nay ly hôn, chị V đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Tăng Văn B và cháu Tăng Thị M1 và không yêu cầu anh Tăng Văn L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà bị đơn là anh Tăng Văn L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 1298/QLXNC-Đ1 ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì: “Anh Tăng Văn L, sinh ngày 26/3/1991 đã xuất cảnh ngày 12/6/2022 qua Cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh L ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh L vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại đơn trình bày ý kiến đề ngày 15/05/2025, chị Tăng Thị L1 (chị gái anh Tăng Văn L) trình bày: Chị là chị gái anh Tăng Văn L, sinh năm 1991, nơi ĐKHKTT: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ sinh sống trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Chị đã nhận được công văn yêu cầu cung cấp thông tin, địa chỉ của anh Tăng Văn L tại nước ngoài. Do hoàn cảnh bố mẹ của chị và anh L là ông Tăng Ngọc M và bà Lưu Thị Công Đ1 đã chết, gia đình anh L và chị L1 lại ở gần nhau nên anh L thường xuyên liên lạc về cho chị L1 để hỏi thăm tình hình sức khoẻ, gia đình và các con. Tuy nhiên, anh L không cung cấp thông tin, địa chỉ cụ thể tại nước ngoài cho chị L1 nên chị L1 cũng không có để cung cấp cho Toà án. Sau khi nhận được thông báo của Toà án, chị đã thông tin cho anh L biết về việc chị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh L và anh L cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh L và chị V có 02 con chung là cháu Tăng Văn B, sinh ngày 03/10/2015 và cháu Tăng Thị M1, sinh ngày 03/10/2015. Từ khi anh L đi nước ngoài cho đến nay 02 cháu do chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời, do điều kiện địa lý xa xôi, việc đi lại khó khăn nên chị xin phép được vắng mặt tại các buổi làm việc của Toà án và phiên toà xét xử sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    • + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Lê Thị Thúy V được ly hôn anh Tăng Văn L.
    • + Về con chung: Giao 02 cháu là cháu Tăng Văn B, sinh ngày 03/10/2015 và cháu Tăng Thị M1, sinh ngày 03/10/2015 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tăng Văn L do chị V chưa có yêu cầu.
    • + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
    • - Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Thúy V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 14/03/2025, chị Lê Thị Thúy V có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Tăng Văn L. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Lê Thị Thúy V đang cư trú tại thôn H, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An còn anh Tăng Văn L có đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nhưng hiện nay anh L đang đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đ. Theo kết quả xác minh tại Phòng Q - Công an tỉnh N thì: anh Tăng Văn L đã xuất cảnh qua cửa khẩu Sân bay quốc tế S vào ngày 12/6/2022, đến nay vẫn chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Tăng Văn L, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Tăng Văn L hiện nay vẫn đăng ký thường trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đ2, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh L tại nước ngoài nhưng theo chị Tăng Thị L1 (chị gái anh L) thì anh L vẫn thường xuyên liên lạc với chị qua điện thoại; chị đã thông tin cho anh L được biết về việc cung cấp địa chỉ của anh L tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị V nhưng anh L vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên chị và gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Tăng Văn L.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thúy V:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Lê Thị Thúy V và anh Tăng Văn L được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có với nhau hai người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống. Từ năm 2022 khi anh L đi xuất khẩu lao động tại Cộng hoà liên bang Đ thì mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh L lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống với nhau là không dài, nhưng đã ly thân một thời gian mà cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, anh L hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đ nhưng không có liên lạc gì về với chị V, nguyên đơn chị V cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị V yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị V và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Lê Thị Thúy V và anh Tăng Văn L có 02 con chung là cháu Tăng Văn B, sinh ngày 03/10/2015 và cháu Tăng Thị M1, sinh ngày 03/10/2015. Hiện nay hai cháu đang được chị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị V đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Tăng Văn B và Tăng Thị M1, không yêu cầu anh Tăng Văn L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, từ khi anh L đi nước ngoài đến nay, cháu B, cháu M1 đã sinh sống với chị V, được chăm sóc phát triển hoàn toàn bình thường. Hiện nay, anh L đang ở nước ngoài, chị L1 (chị gái anh L) cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh L tại nước ngoài. Do đó, cần giao hai cháu Tăng Văn B, Tăng Thị M1 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, cũng như nguyện vọng của các cháu, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu. Chị V xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tăng Văn B và cháu Tăng Thị M1 nhưng không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị V không yêu cầu Toà án giải quyết, anh L cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Chị Lê Thị Thúy V phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thúy V.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Thúy V được ly hôn với anh Tăng Văn L.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Tăng Văn B, sinh ngày 03/10/2015 và cháu Tăng Thị M1, sinh ngày 03/10/2015 cho chị Lê Thị Thúy V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Lê Thị Thúy V không yêu cầu và anh Tăng Văn L cũng chưa có ý kiến nên Toà án không xem xét.

    Anh Tăng Văn L có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Tăng Văn L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Thúy V không yêu cầu và anh Tăng Văn L chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa xem xét. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị Thúy V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số [...] ngày 27/03/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Lê Thị Thúy V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Tăng Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Long Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (theo Giấy Chứng nhận kết hôn 28/2015 ngày 02/04/2015);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 327/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 327/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị V và anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger