TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 327/2024/HS-PT Ngày: 09 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu
Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 27/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị Kim K do có Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 566/2023/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Phạm Thị Kim K, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Dấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Phòng số 4, Lầu 2 nhà số D B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Khắc H (chết) và bà Nguyễn Thị Kim L; Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giam ngày 16/02/2023. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Luật sư Trần Minh H1 – Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Trần Tấn P và những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/02/2023, tại trước nhà số G đường T, Phường A, Quận A, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q tuần tra, phát hiện Trần Tấn P có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thu giữ trên ba ga xe gắn máy biển số 59V2-60574 do P đang điều khiển có một gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,9974 gam loại Ketamine và 01 gói chứa chất bột màu tím kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 6,1201 gam loại MDMA, thu trong túi quần bên phải P đang mặc một ví da màu đen bên trong có một gói nylon chứa chất bộ màu vàng kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,3834 gam loại Methamphetamin, MDMA, Nimetazepam nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Tấn P tại nhà số A đường B, Phường F, quận G, không phát hiện thu giữ gì.
Qua làm việc P khai số ma túy mà công an thu giữ nêu trên là của Phạm Thị Kim K đưa cho P đi giao cho người mua. Mở rộng điều tra, lúc 18 giờ 45 phút ngày 15/02/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q phối hợp Công an P1, Công an quận G kiểm tra hành chính Phòng số 4, lầu 2, nhà số D B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang Phạm Thị Kim K có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy thu giữ trên bàn trong phòng của K 50 gói nylon chứa chất bột màu tím kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 397,49 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam, 15 gói nylon bên ngoài in chữ “CHALY”, bên trong chứa chất bột màu vàng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 18,4713 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam, 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 32,1821 gam, loại Ketamine. Một gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 26,0933 gam, loại Methamphetamine, MDMA.
Tiến hành khám xét chỗ ở của K tại số D ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh không phát hiện thu giữ gì.
Tất cả ma túy thu giữ đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 1558/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H.
Quá trình điều tra Phạm Thị Kim K khai nhận: Bản thân không có nghề nghiệp để có tiền tiêu xài K phụ giúp bán ma túy cho một người tên C (không rõ lai lịch), bằng cách khi có khách mua ma túy C sử dụng tài khoản Telegram tên “C” liên lạc với K qua T bảo K đến đường L quận G (không rõ địa điểm) để nhận ma túy từ C đem bán cho khách của C, còn tiền bán ma túy khách sẽ chuyển cho C nếu chưa chuyển C sẽ bảo K nhận và đưa trực tiếp cho C hoặc chuyển khoản đến số tài khoản 8701234567979 của ngân hàng Q1 (M) mỗi lần giao ma túy xong Chun trả tiền công cho K 200.000 đồng. Ngày 13/02/2023 C nói với K là C đi Đ nên gửi cho K số ma túy còn lại và 01 cân điện tử, K đem ma túy về cất giấu tại phòng số 4, lầu 2, nhà số D B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nơi K ở, khi có khách cần mua ma túy thì C báo cho K để K chuẩn bị và giao cho khách. Trong quá trình phụ giúp mua bán ma túy cho C, K có thuê Trần Tấn P phụ giúp cho K đi giao ma túy cho những khách ở xa hoặc khi K bận việc, K trả tiền công cho P mỗi lần đi giao 200.000 đồng. Vào ngày 15/02/2023 Chun báo có khách mua ma túy ở khu vực đường T Quận A, K đưa ma túy cho P đi giao, trên đường đi thì bị Tổ công tác Công an Q kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Trần Tấn P khai do không có việc làm nên đã đồng ý phụ giúp Phạm Thị Kim K đi giao ma túy để nhận tiền công, mỗi lần đi giao ma túy K trả tiền công cho P 200.000 đồng. Vào lúc 17 giờ ngày 15/02/2023, khi P đang trên đường đi giao ma túy thì bị kiểm tra bắt quả tang như đã nêu trên.
Đối với đối tượng tên C chỉ có duy nhất một lời khai của K khai có phụ giúp C mua bán ma túy và nhận tiền chuyển cho C qua số tài khoản 8701234567979 của Ngân Hàng Q1 (M1). Qua xác minh số tài khoản trên mang tên Bùi Hoài T1, hiện tại T1 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm khi làm việc được có cơ sở sẽ xử lý sau.
Tại bản án hình sự sơ thẩm 566/2023/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Phạm Thị Kim K 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2023.
Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh và hình phạt đối với bị cáo Trần Tấn P; Xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/12/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 04/QĐ-VKS-P1 kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, theo hướng tăng mức hình phạt từ 20 năm tù lên tù chung thân đối với bị cáo K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo K.
Trong phần tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Để mua ma túy với quy mô lớn, K đã nhiều lần thuê P đi giao ma túy, P bị cơ quan công an bắt quả tang, qua khám xét nơi ở K cơ quan công an thu giữ thêm số lượng ma túy nhiều loại, như vậy tổng số lượng ma túy bị cáo K phải chịu trách nhiệm là hơn 480 gam. Hành vi bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội nhiều lần, số lượng ma túy lớn gần 500 gam gấp 5 lần định lượng ma túy tối thiểu theo quy định Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thâm xử bị cáo 20 năm tù là nhẹ nên cần xử phạt hình phạt nghiêm khắc hơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quyết định kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo từ 20 năm tù lên chung thân.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo, đồng ý với bản án sơ thẩm. Đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì trong vụ án này từ giai đoạn điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, chủ động khai ra những lần bị cáo mua bán trước đó ngay cả khi cơ quan công an không hỏi, không điều tra. Từ lời khai bị cáo K thì cơ quan công an mới trích xuất sao kê bị cáo đã chuyển tiền cho Bùi Hoài T1. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đây là tình tiết tự thú, và thành khẩn khai báo thì bị cáo có 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự. Mức án sơ thẩm xử bị cáo là phù hợp quy định pháp luật và nhân đạo của pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra, xin Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo trong vụ án này vì bị cáo khai là nhận ma túy và giao tiền cho Bùi Hoài T1 (C), nhưng hiện nay người này vẫn đang còn hoạt động trên facebook. Bị cáo chỉ là người giúp sức, nên đè nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh đối tượng này là cần thiết để tránh bỏ lọt tội phạm và xem xét vai trò của bị cáo. Theo quy định tại Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về việc phạm tội 02 lần trở lên thì những lần phạm tội trước của bị cáo không định lượng ma túy, nên không có cơ sở xác định bị cáo phạm tội nhiều lần trở lên. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha mất khi bị cáo mới 6 tháng tuổi, mẹ bị cáo buôn bán mưu sinh, vì khoản nợ của gia đình nên bị cáo phải đứng ra lo khoản nợ của gia đình khi còn trẻ.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận quyết định kháng nghị, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 17 giờ 00 phút, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q tuần tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ của Trần Tấn P một gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,9974 gam loại Ketamine và 01 gói chứa chất bột màu tím kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 6,1201 gam loại MDMA và một gói nylon chứa chất bột màu vàng kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,3834 gam loại Methamphetamin, MDMA, Nimetazepam. Qua lời khai của P Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của K tại Phòng số 4, lầu 2, nhà số D B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ 415,9613 gam loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 32,1821 gam Ketaminne; 26,0933 gam loại Methamphetamine, MDMA.
Như vậy, Phạm Thị Kim K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng 417,3447 gam loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 34,1795 gam Ketaminne; 6,1201 gam loại MDMA, 26,0933 gam loại Methamphetamine, MDMA.
Với hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Phạm Thị Kim K 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2023; Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Thị Kim K không có kháng cáo, nhưng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
[2] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do mỗi bị cáo gây ra để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra đã xác định được ngoài lần phạm tội quả tang thì trước đó, (không nhớ rõ ngày, tháng), bị cáo Phạm Thị Kim K đã nhiều lần nhận bán ma túy từ đối tượng C đem giao cho người mua không rõ lai lịch nhằm thu lợi bất chính; Phạm tội thuộc trường hợp từ hai lần trở lên, nên bị cáo Phạm Thị Kim K bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội làm đầu, chưa có tiền án, tiền sự; Gia đình có hoàn cảnh khó khăn; Đã tự khai báo ra những lần mua bán ma túy trước đó phạm tội thuộc trường hợp “người phạm tội tự thú” nên áp dụng điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo K 20 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Không chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Các nội dung và quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P1 ngày 14/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 566/2023/HS-ST ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Kim K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy"
- Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa sđổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt Phạm Thị Kim K 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Duyên |
Bản án số 327/2024/HS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 327/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
