Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 327/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Mai
  2. Ông Võ Từ Xuân Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 961/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/4/2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Lê Nguyễn Quế C, sinh năm 1996.
  • Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt).

  • Bị đơn: Ông Bùi Cao H, sinh năm 1991.
  • Hộ khẩu thường trú: 1 B, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Nguyễn Quế C trình bày: Bà và ông Bùi Cao H chung sống cùng nhau được ba năm, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 20/8/2019. Trong quá trình sống chung, giữa hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H lừa dối bà trong công việc và tiền bạc chi tiêu hằng ngày, ông H giấu giếm bà về tất cả mọi thứ. Trong thời gian chung sống từ năm 2019 đến năm 2021, ông H nhiều lần nói dối bà, đánh bà và bắt bà đưa tiền để phục vụ chi tiêu cuộc sống thường ngày của ông H. Hiện nay cả hai đã sống ly thân. Do không tìm được tiếng nói chung nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Cao H.

Về con chung: Bà C khai không có.

Về tài sản chung: Bà C khai không có.

Về nợ chung: Bà C khai không có.

Trong bản tự khai ngày 09/4/2024 bị đơn ông Bùi Cao H trình bày: Ông đồng ý ly hôn với bà Lê Nguyễn Quế C.

Về con chung: Ông H khai không có.

Về tài sản chung: Ông H khai không có.

Về nợ chung: Ông H khai không có.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Nguyễn Quế C và bị đơn ông Bùi Cao H có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 46 do Ủy ban nhân dân Phường G, quận T cấp ngày 20/8/2019 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Nguyễn Quế C và ông Bùi Cao H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Bà C nộp đơn khởi kiện xin ly hôn ông Bùi Cao H, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn ông Bùi Cao H thực tế cư trú tại 1 B, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Nguyễn Quế C và bị đơn ông Bùi Cao H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét, bà Lê Nguyễn Quế C yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Cao H vì cho rằng quan hệ hôn nhân giữa bà và ông H có nhiều mâu thuẫn trầm trọng và không thể hàn gắn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H thường xuyên lừa dối bà, có hành vi bạo lực, đe dọa bà C. Bà đã nhiều lần khuyên can để hàn gắn tình cảm nhưng ông H vẫn không thay đổi dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt, không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại cả hai đã sống ly thân.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau tuy nhiên hai ông bà tuy sống chung nhưng không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Hiện nay cả hai đã sống ly thân. Bị đơn ông Bùi Cao H cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng hôn nhân của bà C và ông H thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, không thể cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung, về tài sản chung, và nợ chung: Bà C và ông H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Lê Nguyễn Quế C nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều 228; Điều 273, 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Nguyễn Quế C.
    • - Về hôn nhân: Bà Lê Nguyễn Quế C được ly hôn với ông Bùi Cao H.
    • - Về con chung: Không có.
    • - Về tài sản chung: Không có.
    • - Về nợ chung: Không có.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Nguyễn Quế C chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) do bà C đã nộp theo biên lai thu số 0024021 ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Bà Lê Nguyễn Quế C, ông Bùi Cao H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - UBND Phường 7, quận Tân Bình, TPHCM;
  • (theo GCNKH số 46 ngày 20/8/2019)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Trần Ái Vy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 327/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 327/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger