|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 326 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/8/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà
- Ông Nguyễn Văn Hoàn
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 132/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 365/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 257/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1987,
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- - Bị đơn: Anh Bùi Đức P, sinh năm 1984,
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Malaysia.
- - Người làm chứng: Ông Bùi Đức P1 và bà Trương Bích L, địa chỉ: Thôn G, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
Chị T, anh P, ông P1 và bà L đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Phan Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và Bùi Đức P tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã M (nay là thành phố M), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 01/9/2008 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng có chung sống với nhau 01 năm ở M, Quảng Ninh sau đó cả gia đình chuyển về quê nhà chị ở xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương để sinh sống. Vợ chồng thi thoảng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không chia sẻ được với nhau nên không khí gia đình ngột ngạt, căng thẳng. Để phát triển kinh tế gia đình năm 2015 anh P đi xuất khẩu lao động tại Malaysia đến nay chưa về nước lần nào. Trong thời gian này, vợ chồng không thường xuyên liên liên lạc dẫn đến mối quan hệ ngày càng xa cách, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Đặc biệt chị được biết anh P đã có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Nay xác định vợ chồng xa cách gần 10 năm không còn quan tâm đến nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P để chị sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là cháu Bùi Thị Thanh N, sinh ngày 09/10/2008 và cháu Bùi Ngọc M, sinh ngày 03/8/2015, hiện nay đang do chị chăm sóc. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ông Bùi Đức P1 và bà Trương Bích L (là bố, mẹ đẻ của anh Bùi Đức P) xác định anh Bùi Đức P không có mặt ở địa phương và đi lao động ở Malaysia được 8 năm. Ông bà xác định anh P vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình, anh P đã biết việc chị T có đơn xin ly hôn nhưng không có quan điểm gì về việc chị T xin ly hôn.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị T có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh P vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Bùi Đức P; Giao cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Thị Thanh N, sinh ngày 09/10/2008 và cháu Bùi Ngọc M, sinh ngày 03/8/2015 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Phan Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Bùi Đức P. Anh P hiện đang sinh sống và lao động tại Malaysia. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh P tại Malaysia. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị T và gia đình anh P cung cấp địa chỉ nhưng chị T không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh P có liên lạc về gia đình, gia đình anh P không cung cấp được địa chỉ của anh P tại Malaysia. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh P.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Bùi Đức P tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã M (nay là thành phố M), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 01/9/2008 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T và anh P nhiều lần nảy sinh mâu thuẫn. Anh P đi xuất khẩu lao động ở Malaysia từ năm 2015 cho đến nay chưa về nước. Vợ chồng đã sống ly thân thân từ thời điểm đó, không quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Chị T xác định không còn tình cảm với anh P và có đơn xin ly hôn, anh P không có quan điểm gì về việc chị T xin ly hôn.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau được 8 năm. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị T được ly hôn anh P là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị T và anh P có 02 con chung Bùi Thị Thanh N, sinh ngày 09/10/2008 và cháu Bùi Ngọc M, sinh ngày 03/8/2015, hiện đang ở cùng với chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh P không có quan điểm về việc nuôi con chung. Xét thấy, các con chung đang có cuộc sống ổn định cùng với chị T và đều có nguyện vọng ở với chị T, thực tế anh P đang ở nước ngoài không đảm bảo điều kiện chăm sóc con chung. Do đó, cần tiếp tục giao cháu N, cháu M cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Bùi Đức P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị T được ly hôn anh Bùi Đức P.
- Về con chung: Giao cho chị Phan Thị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Thị Thanh N, sinh ngày 09/10/2008 và cháu Bùi Ngọc M, sinh ngày 03/8/2015 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Bùi Đức P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000530 ngày 19/3/2024 (chị T đã nộp đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Chị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 326/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 326/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị T xin ly hôn Bùi Đức P và tranh chấp nuôi con chung
