Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 326/2024/HS-ST

Ngày 06-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

1./ Ông Lê Phúc Tiếng.

2./ Bà Trần Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06/11/2024, tại Hội trường A- Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 298/2024/TLST-HS ngày 03/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 311/2024/QĐXXST-HS ngày 21/10/2024 đối với các bị cáo:

1./ Họ và tên: Ngô Trần Bảo H. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13 tháng 01 năm 2003; Tại: Tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Thôn E, xã H, thành phố B; tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn H1, sinh năm 1956; Con bà Trần Thị A, sinh năm 1956; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 07/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2./ Họ và tên: Phan Nguyễn Thành T. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09 tháng 11 năm 1999; Tại: Tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Số B N, phường T, thành phố B; tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn H2, sinh năm 1963; Con bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967; Bị cáo chưa có vợ con

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 07/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Ngô Thanh T1, sinh năm 2005 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Ông Phan Văn H4, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: Số B N, tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Ông Trần Đình N, sinh năm 1973 (Có mặt)

Địa chỉ: Số G V, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Ông Lê Anh T2, sinh năm 1999 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số C C, khu phố C, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông Trần Đại H5, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Người chứng kiến:

+ Ông Trần Thanh B, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A N, Tổ dân phố C, phường T, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Trần Bảo H và Phan Nguyễn Thành T có mối quan hệ bạn bè và đều là đối tượng sử dụng ma tuý, loại Cần sa. Do không có nghề nghiệp ổn định, nên cả hai nảy sinh ý định mua hạt Cần sa về trồng để sử dụng và mua ma tuý Cần sa để bán kiếm lời. H, T tìm hiểu cách trồng, chăm sóc cây Cần sa và mua dụng cụ bao gồm đèn, quạt, bạt, chậu để trồng cây Cần sa. Ngày 20/01/2024, T và H góp mỗi người 250.000 đồng, tổng cộng 500.000 đồng để đặt mua 02 hạt Cần sa của một người sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 (không rõ nhân thân, lai lịch). Đến ngày 25/01/2024, tại chỗ ở địa chỉ B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, T nhận 01 hộp giấy bên trong có 03 hạt Cần sa (người bán cho thêm 01 hạt Cần sa). Sau đó, H và T sử dụng các dụng cụ trồng được 03 cây Cần sa và chiết cành được 01 cây Cần sa. Để cây nhanh ra búp, cả hai tỉa lá bỏ vào một túi giấy màu nâu để vứt bỏ. Từ tháng 04 đến tháng 05 năm 2024, T, H liên lạc với tài khoản Telegram tên “@unttoanunr @ unttoanunr” để mua ma túy Cần sa về bán kiếm lời. Sau đó, H sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0925.535.xxx đăng nhập vào tài khoản mạng xã hội Telegram tên “Mr. Tê” liên lạc mua bán ma tuý. Khi người mua liên hệ thì H thoả thuận giá và địa điểm giao ma túy rồi điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 47P1- 102.61 đến nhà T lấy ma tuý đi bán. Tiền thu lợi bất chính, H chuyển từ tài khoản số 0925535245 thuộc ngân hàng M mang tên Ngô Trần Bảo H đến tài khoản số 0231000643149 thuộc ngân hàng V mang tên Phan Nguyễn Thành T của T hoặc đưa tiền mặt cho T. Bằng phương thức thủ đoạn nêu trên, T và H thoả thuận mua trái phép 02 lần ma tuý Cần sa về sử dụng và nhiều lần bán kiếm lời, cụ thể như sau:

Lần mua ma túy Cần sa thứ nhất: Khoảng ngày 02/04/2024, H và T góp chung số tiền 4.250.000 đồng để mua khoảng 50 gam ma tuý Cần sa bán kiếm lời. Đến ngày 06/04/2024, nhân viên giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) đến chỗ ở của T giao 01 gói hàng, T trả số tiền 4.250.000 đồng cho nhân viên thu hộ. Đến ngày 29/04/2024, cả hai đã lấy khoảng 25g ma tuý Cần sa để sử dụng riêng và phần ma tuý còn lại H, T bán nhiều lần cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch người mua, địa điểm mua bán), thu lợi bất chính số tiền 2.700.000 đồng. Số tiền này, T, H chia đôi, mỗi người được 1.350.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

Lần mua ma túy Cần sa thứ hai: Ngày 02/05/2024, T, H tiếp tục góp chung số tiền 5.500.000 đồng để mua khoảng 100 gam ma tuý Cần sa về sử dụng và bán kiếm lời. H sử dụng điện thoại di động, kiểu dáng Iphone, kèm sim số 0925.535.xxx đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng chuyển tiền từ số tài khoản 0925535245 thuộc ngân hàng M1 mang tên H đến số tài khoản 8821706053 ngân hàng BIDV mang tên Nguyen Minh T4 cho người bán ma tuý. Đến ngày 05/05/2024, nhân viên giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch), đến chỗ ở của T giao 01 gói hàng chứa ma túy Cần sa cho T.

Từ ngày 05/05/2024 đến ngày 06/05/2024, T, H đã bán trái phép ma tuý 07 lần, thu lợi bất chính như sau:

Lần bán thứ nhất: Khoảng 12 giờ, ngày 05/05/2024, người nam giới sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 có tên “Box” (không rõ nhân thân, lai lịch), liên lạc hỏi mua 03 gam ma tuý Cần sa thì H đồng ý bán với số tiền 450.000 đồng và hẹn giao ma tuý tại khu vực đường N, phường E, thành phố B. Sau đó, H điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 47P1- 102.61 đến nhà T lấy khoảng 05 gam ma tuý Cần sa rồi đi đến chỗ hẹn bán ma túy, thu lợi số tiền 450.000 đồng.

Lần bán thứ hai: Khoảng 15 giờ, ngày 05/05/2024, người nam giới sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 có tên “Tôm” (không rõ nhân thân, lai lịch), sử dụng số điện thoại 0963.425.xxx liên lạc hỏi mua 02 gam ma tuý Cần sa thì H đồng ý bán với số tiền 400.000 đồng và hẹn giao ma tuý ở khu vực đường Y, phường E, thành phố B. H lấy 02 gam ma tuý Cần sa còn lại và điều khiển xe đi đến điểm hẹn bán ma tuý, thu lợi số tiền 400.000 đồng.

Lần bán thứ ba: Khoảng 19 giờ, ngày 05/05/2024, người nam giới sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 có tên “Phong Van” (không rõ nhân thân, lai lịch), sử dụng số điện thoại 0868.694.xxx liên lạc hỏi mua 05 gam ma tuý Cần sa thì H đồng ý bán với số tiền 700.000 đồng và hẹn giao ma tuý trước Khách sạn M2, phường T, thành phố B. H điều khiển xe đến nhà T lấy khoảng 15 gam ma tuý Cần sa rồi đến điểm hẹn bán 05 gam ma tuý Cần sa, thu lợi số tiền 700.000 đồng.

Lần bán thứ bốn: Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 05/05/2024, tại khu vực đường N, phường E, thành phố B. H bán 05 gam ma tuý Cần sa (ma tuý còn lại H lấy của T) cho người nam giới sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 có tên “cười mỗi ngày” và số điện thoại 0868.694.xxx (không rõ nhân thân, lai lịch), thu lợi số tiền 750.000 đồng.

Lần bán thứ năm: Khoảng 21 giờ, ngày 05/05/2024, tại khu vực đường A, phường T, thành phố B. H bán 05 gam ma tuý Cần sa (ma tuý còn lại lấy của T) cho người nam giới sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 có tên “P” và số điện thoại 0866.443.xxx (không rõ nhân thân, lai lịch), thu lợi số tiền 750.000 đồng.

Lần bán thứ sáu: Vào khoảng 11 giờ, ngày 06/05/2024, người nam giới sử dụng tài khoản mạng xã hội T3 có tên “Quán Đ” (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc hỏi mua 10 gam ma tuý Cần sa thì H đồng ý bán với số tiền 1.000.000 đồng và hẹn giao ma tuý khu vực đường N, phường E, thành phố B. H điều khiển xe môtô đến nhà T lấy khoảng 15 gam ma tuý Cần sa và đi đến điểm hẹn bán 10 gam ma tuý, thu lợi số tiền 1.000.000 đồng.

Lần bán thứ 7: Khoảng 19 giờ, ngày 06/05/2024, người nữ giới sử dụng tài khoản mạng xã hội Telegram có tên “The Maze” và số điện thoại 0899.036.xxx (không rõ nhân thân, lai lịch), hỏi mua của H 03 gam ma tuý Cần sa, với số tiền 450.000 đồng thì H đồng ý và hẹn giao ma tuý tại khu vực đường T, phường T, thành phố B. Người nữ giới sử dụng số tài khoản 1037178643 thuộc ngân hàng M mang tên “Nguyen Thi Thanh L1” chuyển số tiền 550.000 đồng qua số tài khoản cho H, trong đó số tiền 450.000 đồng mua ma tuý, số tiền 100.000 đồng người này trả nợ cho bạn gái của H là Ngô Thanh T1, sinh năm 2005, cư trú tại tổ dân phố 1, phường T, thành phố B. Sau khi nhận được tiền, H sử dụng tài khoản số 0925535245 thuộc ngân hàng M chuyển khoản 04 lần vào tài khoản số 0231000643149 thuộc ngân hàng V của T, tổng số tiền 3.450.000 đồng còn lại 1.050.000 đồng, H đưa tiền mặt cho T. H tiếp tục điều khiển xe môtô, biển số 47P1- 102.61 chở Ngô Thanh T1 đi đến điểm hẹn bán ma tuý. Trên đường đi, H lấy 01 túi xách màu đen chứa 03 gói nylon ma tuý Cần sa cất giấu vào túi xách của T1 còn 01 gói ma tuý Cần sa H cất giấu trong người mục đích đi bán. T1 không biết việc H cất giấu, mua bán ma tuý. Khi H và T1 đến trước số nhà A đường T, tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ 04 gói nylon trong túi zip chứa hoa thảo mộc khô (đã được niêm phong theo quy định của pháp luật).

Ngày 07/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Phan Nguyễn Thành T, thu giữ 01 túi nylon bên trong có chứa bốn cây thảo mộc; 01 túi giấy màu nâu bên trong có lá thảo mộc khô và 02 lọ thuỷ tinh bên trong có chứa hoa thảo mộc khô (đã được niêm phong theo quy định của pháp luật).

- Tại kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 14 tháng 05 năm 2024 của phòng K, công an tỉnh Đ kết luận:

  • + Khi bắt quả tang: Thảo mộc khô bên trong 04 túi Zip được niêm phong gửi giám định là chất Ma túy, khối lượng là: 6,5500 gam, loại Cần sa.
  • + Khi khám xét: Gói nylon bên trong 04 cây thảo mộc tươi được niêm phong gửi giám định là chất Ma túy, khối lượng là: 700 gam, loại Cần sa; Hộp giấy bên trong lá thảo mộc khô bên trong 01 túi giấy được niêm phong gửi giám định là chất Ma túy, khối lượng là: 109,6904 gam, loại Cần sa và hoa thảo mộc khô bên trong 02 lọ thuỷ tinh được niêm phong gửi giám định là chất Ma túy, khối lượng là: 62,4437 gam ma tuý, loại Cần sa.

Tại Cáo trạng số 310/CT-VKS ngày 02/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T, mỗi bị cáo mức hình phạt từ 08 (T) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (C) năm tù.

- Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử lý vật chứng

Tịch thu, tiêu hủy 5,5123 gam ma tuý Cần sa trong phong bì; 200 gam ma tuý Cần sa trong gói nylon; 97,4742 gam ma tuý Cần sa trong hộp giấy (lá thảo mộc khô); 55,3742 gam ma tuý Cần sa (hoa thảo mộc khô) và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật giám định ban đầu đều được niêm phong số 684/KL-KTHS ngày 14/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 hộp giấy bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ; 02 tủ vải màu đen, 02 đèn chiếu sáng, 01 quạt thông gió, 04 chậu nhựa, 01 cân tiểu ly điện tử; 01 điếu bằng cao su;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Sam Sung màu xanh, không gắn sim của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 352996098327227, kèm sim số 0925535245 và 01 xe môtô, biển kiểm soát soát 47P1 – 102.61, nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADEFI, màu sơn trắng xám, dung tích xi lanh 124cm³, số khung: RLHJF6412EZ023857, số máy: JF46E6023883 của bị cáo H.

Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.350.000 đồng của bị cáo H và số tiền 5.850.000 đồng của bị cáo T, thu lợi bất chính từ hành vi bán ma tuý.

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Ngô Thanh T1 01 túi xách màu đen (không nhãn hiệu).

Các vấn đề khác đề nghị HĐXX chấp nhận như nội dung tại bản Cáo trạng.

Các bị cáo không tranh luận nội dung gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận nội dung gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Từ tháng 4 năm 2024 đến ngày 06/5/2024, tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T có hành vi mua ma túy loại Cần sa 02 lần và bán trái phép chất ma túy nhiều lần, thu lợi bất chính số tiền 7.200.000 đồng. Khoảng 19 giờ, ngày 06/5/2024, tại khu vực trước số nhà A T, tổ dân phố A, phường T, thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, phát hiện, bắt quả tang H có hành vi bán trái phép chất ma túy, thu giữ 6,55 gam ma túy Cần sa. Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét chỗ ở của T, thu giữ 62,4437 gam ma túy Cần sa. H, T khai nhận tang vật bị thu giữ là ma túy Cần sa, H, T cất giấu đề bán kiếm lời.

Hành vi của các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên”

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Các bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được Cần sa là chất ma túy gây nghiện, làm hủy hoại sức khỏe con người, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự tại địa phương, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm sự thống nhất quản lý ma túy của Nhà nước.

[3] Về vai trò:

Trong vụ án này, các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T cùng thực hiện hành vi phạm tội, có sự câu kết chặt chẽ với nhau, đồng phạm mang tính chất giản đơn. Tuy nhiên, cần phân hóa vai trò từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo. Các bị cáo không lấy số tiền kiếm được từ việc bán ma túy làm nguồn sống chính mà chỉ để có tiền sử dụng ma túy.

Các bị cáo cùng thỏa thuận góp tiền để mua ma túy, cùng tìm người mua ma túy. Bị cáo T là người sử dụng địa điểm nơi ở của mình làm nơi cất giấu ma túy; bị cáo H là người tìm người mua ma túy và trực tiếp đi giao ma túy cho người mua. Sau khi bán được ma túy thì H đưa lại tiền bán được ma túy cho T. Hai bị cáo thỏa thuận sau khi bán được thì chia đôi. Tuy nhiên, bị cáo T không chia lợi nhuận có được từ việc bán ma túy cho H mà sử dụng số tiền bán ma túy mà H đưa để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt cho bị cáo Trung cao hơn bị cáo H.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình làm việc tại cơ quan Công an, các bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình trước đó; Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên. HĐXX xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

Đối với 5,5123 gam ma tuý Cần sa trong phong bì; 200 gam ma tuý Cần sa trong gói nylon; 97,4742 gam ma tuý Cần sa trong hộp giấy (lá thảo mộc khô); 55,3742 gam ma tuý Cần sa (hoa thảo mộc khô) và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật giám định ban đầu đều được niêm phong trong 03 gói cùng số 684/KL-KTHS ngày 14/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, bên ngoài có chữ ký và tên của Vũ Thị Mỹ L2, Nguyễn Bá H6 và đóng dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 hộp giấy bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ; 02 tủ vải màu đen, 02 đèn chiếu sáng dạng đèn Led, 01 quạt thông gió, 04 chậu nhựa màu đen, 01 cân tiểu ly điện tử; 01 điếu bằng cao su là tang vật của vụ án cần tịch thu, tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Sam Sung, màu xanh, imei mặt lưng 354312132168577, không gắn sim của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 352996098327227, gắn sim số 0925.535.245 và 01 xe môtô, biển kiểm soát soát 47P1 – 102.61, nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE FI, màu sơn trắng xám, dung tích xi lanh 124cm³, số khung: RLHJF6412EZ023857, số máy: JF46E6023883, không kèm đăng ký xe của bị cáo H. (Quá trình điều tra xác định: Xe môtô trên do ông Trần Đại H5, sinh năm 1990, cư trú tại thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 07/08/2018, ông H5 bán cho bị cáo T tại hợp đồng công chứng số 360 của UBND phường T, thành phố B. Sau đó, T bán lại cho H chiếc xe này nhưng chưa chuyển quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.) Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 1.350.000 đồng của bị cáo H và 5.850.000 đồng của bị cáo T. Đây là tiền thu lợi bất chính từ hành vi bán ma tuý, các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 túi xách màu đen (không nhãn hiệu) của chị T1. Ngày 06/05/2024, bị cáo H cất giấu ma tuý trong túi xách màu đen, mục đích đi bán, nhưng chị T1 không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Ngô Thanh T1 là chủ sở hữu là phù hợp.

[7] Các vấn đề khác:

- Đối với người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Telegram tên “@unttoanunr @ unttoanunr” và số tài khoản 8821706053 ngân hàng B1 bán ma tuý cho các bị cáo. Quá trình điều tra xác định: Số tài khoản 8821706053 ngân hàng B1 chi nhánh D, Bình Dương do Nguyễn Minh T5, sinh năm 1994, thường trú tại: E N, phường T, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh làm chủ tài khoản. Xác minh tại Công an phường T, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Minh T5 không đăng ký và không có người nào tên Nguyễn Minh T5 cư trú tại địa chỉ E N, phường T, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Đối với người người nữ giới, sử dụng tài khoản Telegram tên “The Maze” cùng với số điện thoại 0899.036.xxx và số tài khoản 0001037178643 ngân hàng V (mua ma tuý lần thứ 7). Quá trình điều tra xác định: Số điện thoại 0899.036.xxx do ông Trần Đình N, sinh năm 1973, cư trú tại: G V, phường K, thành phố B, đứng tên đăng ký sử dụng. Ông N khai nhận không sử dụng và không đăng ký sở hữu số điện thoại trên. Số tài khoản 0001037178643 ngân hàng V do chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983, trú tại: A P, phường T, thành phố B. Ngày 06/05/2024, chị L thực hiện chuyển khoản số tiền 550.000 đồng nhưng không biết nội dung giao dịch và không biết nhân thân, lai lịch người nhờ chuyển số tiền trên, chị L không sử dụng tài khoản Telegram tên “The Maze”; Đối với người nam giới sử dụng tài khoản T3 tên “Tôm” cùng số điện thoại 0363.425.xxx (mua ma tuý lần thứ 2). Quá trình điều tra xác định: Số điện thoại 0363.425.xxx do anh Lê Anh T2, sinh năm 1999, thường trú tại: Thôn A, xã E, thành phố B, đứng tên đăng ký sử dụng. Anh T2 khai nhận không đăng ký sở hữu số điện thoại 0363.425.xxx; Đối với người nam giới sử dụng tài khoản Telegram tên “Phong Vân” cùng với số điện thoại 0889.667.xxx (mua ma tuý lần thứ 3). Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có Công văn gửi Công ty V1 xác minh chủ sở hữu thuê bao số 0528.322.517 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được phúc đáp; Đối với người nam giới sử dụng tài khoản Telegram tên “Cười mỗi ngày” cùng với số điện thoại 0868.694.xxx (mua ma tuý lần thứ 4). Quá trình điều tra xác định: Số điện thoại 0868.694.xxx do chị Võ Thu T6, sinh năm 2002, thường trú tại: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, đăng ký sử dụng. Xác minh tại Công an phường T, thành phố B, Võ Thu T6 không có mặt tại địa phương; Đối với người nam giới sử dụng tài khoản Telegram tên “P” cùng với số điện thoại 0866.443.xxx (mua ma tuý lần thứ 5). Quá trình điều tra xác định: Số điện thoại 0866.443.xxx do Trần Bá P, sinh năm 2000, cư trú tại B N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, đăng ký sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã uỷ thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng đến nay vẫn chưa nhận được kết quả trả lời; Đối với người nam giới sử dụng tài khoản Telegram tên “Quán Đ” (mua ma tuý lần thứ 6); người nam giới sử dụng tài khoản Telegram tên “Box” (mua ma tuý lần thứ nhất) và nhân viên giao hàng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định nhân thân, lai lịch của các đối tượng và người liên quan nêu trên nên tách các hành vi của những người này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

- Đối với ông Phan Văn H4, bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967, trú tại: Số B N, phường T, thành phố B (bố mẹ ruột của bị cáo T) là chủ sở hữu căn nhà B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Việc bị cáo Phan Nguyễn Thành T trồng 04 (bốn) cây Cần sa và cất giấu ma tuý tại căn nhà này thì bà H3, ông H4 không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với bà H3, ông H4 là phù hợp.

- Đối với hành vi trồng 04 (bốn) cây Cần sa, cất giấu 109,6904 gam ma tuý Cần sa, không nhằm mục đích mua bán và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo H và T. Quá trình điều tra xác định các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, phạt tiền 5.000.000 đồng về hành vi Trồng cây Cần sa và phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T; phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T; phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Ngô Trần Bảo H 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/5/2024.

- Xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Thành T 08 (T7) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/5/2024.

[2] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

Tịch thu, tiêu hủy 5,5123 gam ma tuý Cần sa trong phong bì; 200 gam ma tuý Cần sa trong gói nylon; 97,4742 gam ma tuý Cần sa trong hộp giấy (lá thảo mộc khô); 55,3742 gam ma tuý Cần sa (hoa thảo mộc khô) và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật giám định ban đầu đều được niêm phong trong 03 gói cùng số 684/KL-KTHS ngày 14/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, bên ngoài có chữ ký và tên của Vũ Thị Mỹ L2, Nguyễn Bá H6 và đóng dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 hộp giấy bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ; 02 tủ vải màu đen, 02 đèn chiếu sáng dạng đèn Led, 01 quạt thông gió, 04 chậu nhựa màu đen, 01 cân tiểu ly điện tử; 01 điếu bằng cao su.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Sam Sung, màu xanh, imei mặt lưng 354312132168577, không gắn sim của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 352996098327227, gắn sim số 0925.535.245 và 01 xe môtô, biển kiểm soát soát 47P1 – 102.61, nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE FI, màu sơn trắng xám, dung tích xi lanh 124cm³, số khung: RLHJF6412EZ023857, số máy: JF46E6023883, không kèm đăng ký xe của bị cáo H.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)

Truy thu của bị cáo H số tiền 1.350.000 đồng và bị cáo T 5.850.000 đồng, thu lợi bất chính từ hành vi bán ma tuý để sung ngân sách nhà nước.

Chấp Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 túi xách màu đen (không nhãn hiệu) cho chị Ngô Thanh T1 là chủ sở hữu.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Ngô Trần Bảo H, Phan Nguyễn Thành T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP BMT;
  • - Công an Tp BMT;
  • - Chi cục THADS TP BMT;
  • - Các bị cáo;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 326/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 326/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Trần Bảo H + ĐP phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger