Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 326/2024/DS-ST

Ngày: 18/10/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoài

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Lý Chung.
  2. Ông Phan Văn Hòa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2024/QĐST-DS ngày 27/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H; trụ sở: 25 Bis N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Long P, sinh năm 1990 là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 29/2024/UQ-HDB ngày 12/4/2024) (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Lâm T, sinh năm 1987; địa chỉ: A đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2024, bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Lâm T đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại Ngân hàng chi tiết như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 26687/22MN/HĐTD ngày 16/6/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 26687/22MN/HĐTD/KUNN01 ngày 01/7/2022:

  • + Số tiền vay: 500.000.000 (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng);
  • + Mục đích vay: Vay tiêu dùng có TSBĐ - Mua sắm đồ dùng trong gia đình;
  • + Thời hạn vay : 60 tháng; từ ngày 02/7/2022 đến ngày 01/7/2027
  • + Lãi suất vay: 9,4%/năm; lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm và có thể được Ngân hàng điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng trên cơ sở phù hợp với quy định NHNN trong từng thời kỳ;
  • + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Thửa đất số 868, tờ bản đồ số 19, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tìa sản khác gắn liền với đất số CX910380, số vào sổ cấp GCN: CH 14236 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 19/11/2020, cập nhật thay đổi ngày 06/6/2022.

- Hợp đồng tín dụng hạn mức số 30038/22MN/HĐTD ngày 18/7/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 30038/22MN/HĐTD/KUNN02 ngày 13/7/2023:

  • + Số tiền vay: 1.000.000.000 (Bằng chữ: Một tỷ đồng);
  • + Mục đích vay: Bổ sung VLD - Bổ sung vốn lưu động phục vụ SXKD;
  • + Thời hạn vay: 12 tháng; từ ngày 14/7/202023 đến ngày 13/7/2024
  • + Lãi suất vay: 12%/năm; lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm và có thể được Ngân hàng điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng trên cơ sở phù hợp với quy định NHNN trong từng thời kỳ;
  • + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Thửa đất số 868, tờ bản đồ số 19, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tìa sản khác gắn liền với đất số CX910380, số vào sổ cấp GCN: CH 14236 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 19/11/2020, cập nhật thay đổi ngày 06/6/2022.

- Hợp đồng tín dụng hạn mức số 17997/23MN/HĐTD ngày 27/7/2023 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17997/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 28/7/2023:

  • + Số tiền vay: 440.000.000 (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi triệu đồng);
  • + Mục đích vay: Thanh toán tiền mua hàng thep hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 17/7/2023;
  • + Thời hạn vay: 12 tháng; từ ngày 29/7/202023 đến ngày 28/7/2024
  • + Lãi suất vay: 11,1%/năm; lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm và có thể được Ngân hàng điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng trên cơ sở phù hợp với quy định NHNN trong từng thời kỳ;
  • + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Thửa đất số 868, tờ bản đồ số 19, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tìa sản khác gắn liền với đất số CX910380, số vào sổ cấp GCN: CH 14236 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 19/11/2020, cập nhật thay đổi ngày 06/6/2022.

- Ông Lâm T có làm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – Dịch vụ, Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ trả trước định danh, tài khoản thanh toán trực tuyến và cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử (“Giấy đề nghị”). Theo đó, ông T được cấp hạn mức thẻ tín dụng lần lượt là: Thẻ tín dụng Ngân hàng Vietjet Visa Platinum số thẻ 416259******2063 có hạn mức 100.000.000 đồng, thẻ tín dụng Visa Platinum số thẻ 416259******7112 có hạn mức 50.000.000 đồng, thẻ tín dụng số thẻ 527773******6250 có hạn mức 2.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển các khoản vay của ông T thành nợ quá hạn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:

  1. Buộc ông Lâm T phải thanh toán ngày một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – Dịch vụ, Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ trả trước định danh, tài khoản thanh toán trực tuyến và cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử (“Giấy đề nghị”) nêu trên với tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/3/2024 là 2.158.352.331 đồng (gồm nợ gốc: 1.980.743.894 đồng, lãi trong hạn: 154.677.692 đồng, lãi quá hạn: 22.930.745 đồng).
  2. Buộc ông Lâm T phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các Giấy đề nghị đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 20/03/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  3. Trường hợp ông Lâm T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đề nghị Quý Tòa cho Ngân hàng yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thêm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 23032/22MN/HĐBĐ ngày 16/06/2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng NH 23032/22MN/HĐBĐ/PL01 ngày 18/07/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng NH 23032/22MN/HĐBĐ/PL02 ngày 27/07/2023; toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của Ông Lâm T đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của Ông Lâm T tại Ngân hàng, thì Ông Lâm T phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

* Đối với bị đơn ông Lâm T:

Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an P1, Quận A: “Lâm Thành, sinh năm 1987; có đăng ký thường trú tại A đường B, Phường A, Quận A nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2002. Hiện cư trú 171/23/2/16 đường số A, Khu phố A, phường A, quận B”; Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an Phường A, Quận B: "Khu phố A, phường A, quận B không có địa chỉ 171/23/2/16 đường số A” nên Tòa án căn cứ theo hướng dẫn tại điểm e khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xác định ông Lâm T có nơi cư trú cuối cùng tại A đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng phía bị đơn đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn được.

* Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Võ Long P vắng mặt nhưng có gửi bảng tính lãi đến ngày 18/10/2024 đến Tòa án, với số tiền là 2.415.289.784 (hai tỷ bốn trăm mười lăm triệu hai trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi bốn).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

  • - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đương sự có mặt tại phiên tòa trình bày, căn cứ vào nội dung tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H khởi kiện ông Lâm T về hợp đồng vay tài sản nên đây là vụ án tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lâm T có cư trú cuối cùng tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử ngày 10/9/2024. Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 27/9/2024 và 8 giờ 00 phút ngày 18/10/2024, bị đơn đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu số tiền nợ của nguyên đơn:

Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng và tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – Dịch vụ, Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ trả trước định danh, tài khoản thanh toán trực tuyến và cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử (“Giấy đề nghị”) được ký kết giữa Ngân hàng với ông Lâm T, Hội đồng xét xử xét thấy đây là các giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán; việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở:

  • Buộc ông Lâm T phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 26687/22MN/HĐTD ngày 16/6/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 30038/22MN/HĐTD ngày 18/7/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 17997/23MN/HĐTD ngày 27/7/2023 tạm tính đến ngày 18/10/2024 là 2.143.796.143 (hai tỷ một trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi ba) đồng, trong đó nợ gốc là 1.831.660.969 đồng và lãi quá hạn là 312.135.174 đồng.
  • Buộc ông Lâm T phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo các Thẻ tín dụng H Vietjet Visa Platinum số thẻ 416259******2063, thẻ tín dụng Visa Platinum số thẻ 416259******7112, thẻ tín dụng số thẻ 527773******6250 tạm tính đến ngày 18/10/2024 là 271.493.641 (hai trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm bốn mươi mốt) đồng, trong đó nợ gốc là 149.019.353 đồng và nợ lãi là 122.474.288 đồng.
  • Ngoài ra, ông T còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng trên từ ngày 19/10/2024 cho đến khi trả hết nợ.

[4] Về xử lý tài sản đang thế chấp:

Để đảm bảo khoản vay, ông Lâm T đã thế chấp quyền sử dụng đất thuộc Thửa đất số 868, tờ bản đồ số 19, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tìa sản khác gắn liền với đất số CX910380, số vào sổ cấp GCN: CH 14236 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 19/11/2020, cập nhật thay đổi ngày 06/6/2022. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm và thế chấp tài sản đã được các bên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên được pháp luật bảo vệ. Do đó, trong trường hợp ông V không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo quy định tại Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng.

[5] Về án phí:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự là đồng.

Về chi phí tố tụng: Ông Lâm T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

[6] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H.
  2. Buộc ông Lâm T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H tổng số tiền nợ 2.415.289.784 (hai tỷ bốn trăm mười lăm triệu hai trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi bốn) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lâm T còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã ký thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thẻ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  4. Trong trường hợp ông Lâm T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc Thửa đất số 868, tờ bản đồ số 19, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tìa sản khác gắn liền với đất số CX910380, số vào số cấp GCN: CH 14236 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 19/11/2020, cập nhật thay đổi ngày 06/6/2022. Số tiền phát mãi tài sản sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến việc phát mãi sẽ được thanh toán và chi trả theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi trả hết nợ cho Ngân hàng mà số tiền phát mãi đối với tài sản thế chấp còn dư thì sẽ được trả lại cho chủ sở hữu của tài sản thế chấp. Nếu số tiền phát mãi tài sản không đủ để trả nợ thì ông Lâm T phải tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền nợ còn lại. Trong trường hợp ông Lâm T thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng mà không phải phát mãi tài sản đã thế chấp để trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H có nghĩa vụ thực hiện xóa thế chấp và trả lại bản chính giấy chứng nhận chủ sở hữu đối với tài sản thế chấp cho ông Lâm T.
  5. Về án phí:

    Ông Lâm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 80.305.796 (T1 mươi triệu ba trăm lẻ năm nghìn bảy trăm chín mươi sáu) đồng.

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.583.524 (Ba mươi bảy triệu năm trăm tám mươi ba nghìn năm trăm hai mươi bốn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023050 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Về chi phí tố tụng khác: Ông Lâm T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Chi phí này nộp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 326/2024/DS-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 326/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger