|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 326/2024/DS-PT Ngày 21 – 5 – 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy GCN quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh.
Ông Ngô Đức Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1404/2024/QĐ-PT ngày 04/5/2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Xuân H, sinh năm 1953; địa chỉ: C đường T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- - Ông Bùi Thanh S, sinh năm 1981; địa chỉ: 6 đường A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 19/4/2024, có mặt).
- - Ông Nguyễn Thành M, sinh năm 1953; địa chỉ: C đường T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 21/5/2024, có mặt).
-
Bị đơn: Ông Nguyễn văn L, sinh năm 1958; địa chỉ: F, tổ C, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Anh Q, sinh năm 1985; địa chỉ: khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964;
- Anh Nguyễn Anh Q, sinh năm 1985; (có mặt)
- Anh Nguyễn Anh L1, sinh năm 1991; (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993;
- Cụ Nguyễn Thị Y, sinh năm 1936.
Cùng địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có văn bản xin vắng mặt).
- Chị Lê Thị Kiều Y1, sinh năm 1995;
- Trẻ Nguyễn Kiều A, sinh năm 2020;
- Trẻ Nguyễn Vân A1, sinh năm 2021.
Người đại diện hợp pháp của trẻ Nguyễn Kiều A và trẻ Nguyễn Vân A1: Anh Nguyễn Anh L1, sinh năm 1991 và chị Lê Thị Kiều Y1, sinh năm 1995, là cha mẹ ruột của trẻ Nguyễn Kiều A và trẻ Nguyễn Vân A1; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Lâm Thị Xuân H, sinh năm 1953, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lâm Thị Xuân H và những người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ của bà Lâm Thị Xuân H là cụ Lâm Văn C và cụ Võ Thị C1 tạo lập được phần đất thổ cư và cây lâu năm khác, diện tích 3.664,0m², thửa số 67, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi cha mẹ qua đời, bà Hoa đăng k kê khai thửa đất trên và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số 03538QSDĐ/bB ngày 14/11/2001.
Khi còn sống, cha mẹ bà H cho vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2 và cụ Nguyễn Thị H2 cất nhà (kết cấu sàn gỗ tạp, vách tole, mái tole) ở nhờ trên một phần diện tích thửa đất. Cụ L2, cụ H2 có làm Tờ cam kết ngày 19/05/1989 (có hai người làm chứng, có xác nhận của ban ấp vào ngày 20/10/1989 và Ủy ban nhân dân xã L), ghi rõ điều kiện, khi cụ L2, cụ H2 bán nhà phải tháo dỡ nhà và khi qua đời thì không được cho ai tiếp tục ở trên phần đất này. Tuy nhiên, sau khi cụ H2 qua đời thì cháu của cụ là ông Nguyễn Văn L3 không chịu trả lại đất mà tiếp tục chiếm hữu và cơi nới thêm diện tích. Bà H đã nhiều lần yêu cầu ông L3 tháo dỡ, di dời nhà trả đất nhưng ông L3 không đồng ý mà còn tháo dỡ nhà cũ để xây dựng lại thành nhà kiên cố bê tông cốt thép, kích thước ngang 07m, dài 20m.
Ngày 18/01/2018, Ủy ban nhân dân xã L A lập biên bản đình chỉ thi công nhà kiên cố của ông L3, yêu cầu ông không được xây dựng thêm để chờ kết quả giải quyết tranh chấp của cơ quan chức năng.
Tại Biên bản hòa giải ngày 23/5/2018, ông L3 đồng ý tháo dỡ, di dời nhà trả đất cho bà H, nhưng sau đó, tại buổi hòa giải ngày 31/5/2018, ông L3 thay đổi ý kiến, không đồng ý di dời nhà. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L3 và những người có tên trong hộ khẩu của ông L3 tháo dỡ, di dời nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất, trả lại cho bà H phần đất tranh chấp có kích thước ngang 07m, dài 20m, thuộc một phần thửa số 67 nêu trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Văn L3 trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là do cha của ông Lâm T Tiếp quản lý, sử dụng. Ông nội của ông là cụ Nguyễn Văn L2 đến cất nhà trên phần đất này, diện tích ngang khoảng 7m, dài khoảng 20m vào năm 1940. Cha của ông T1 đăng ký kê khai cả phần đất có căn nhà của cụ L2 nhưng cụ L2 không biết. Khi cha của ông T1 qua đời, ông T1 quản lý và sử dụng phần đất này. Còn khi cụ L2 chết, thì gia đình ông vào quản lý, sử dụng căn nhà của cụ L2 để lại, có cụ H2 cùng sống chung.
Khoảng năm 1994, cụ H2 đến ở nhà cháu của cụ nên ông cùng vợ và các con quản lý, sử dụng căn nhà cho đến nay. Năm 2001, bà H kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà ba mẹ bà H nhận chuyển nhượng từ ông T1 và có kê khai luôn phần nhà đất đang tranh chấp, nhưng gia đình ông không biết. Việc bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có căn nhà của gia đình ông là không đúng nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, đồng thời có yêu cầu phản tố: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03538QSDĐ/bB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/11/2001 cho bà Lâm Thị Xuân H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L3 thừa nhận cụ L2, cụ H2 có mượn đất của cha mẹ bà H theo nội dung Tờ cam kết ngày 19/05/1989 là đúng, nhưng vì ông không có chỗ ở khác nên ông đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà H theo kết luận định giá của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Anh Q trình bày:
Thống nhất như nội dung trình bày của cha anh là ông Nguyễn Văn L3.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 07/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định (tóm tắt):
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Xuân H, yêu cầu ông L3, bà X trả diện tích 26m² đất.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Xuân H.
- Buộc ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị X có nghĩa vụ trả cho bà Lâm Thị Xuân H giá trị quyền sử dụng đất là 114.000.000 (một trăm mười bốn triệu) đồng.
- Ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị X được quyền sử dụng đất diện tích 114m², tại các điểm 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18, 19, 20 theo sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 17/12/2018 của Văn phòng Đ Chi nhánh C2, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03538/bB ngày 14/11/2001 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Lâm Thị Xuân H.
- Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lâm Thị Xuân H, ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị X có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký, kê khai điều chỉnh biến động và cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 18/10/2023, nguyên đơn là bà Lâm Thị Xuân H kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để cho rằng ông L3 chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai đối với đất tranh chấp trong thời hạn 30 năm nên trở thành chủ sử dụng đất này là không đúng vì đây là đất mượn; việc Bị đơn không có chỗ ở khác không phải là nghĩa vụ của Nguyên đơn, nên buộc Bị đơn tháo dỡ, di dời tài sản trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho Nguyên đơn; ghi nhận Nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ cho Bị đơn chi phí tháo dỡ, di dời tài sản trên đất là 200.000.000 đồng. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với Bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn Kháng cáo của nguyên đơn là bà Lâm Thị Xuân H làm trong hạn luật định và hợp lệ nên chấp nhận.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, xác định phần đất tranh chấp có diện tích 114m², là một phần thửa số 67, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, diện tích 3.664m², có nguồn gốc do vợ chồng cụ Lâm Văn C, cụ Võ Thị C1 (cha mẹ của bà Lâm Thị Xuân H) nhận chuyển nhượng của cụ Lâm Thành T2. Theo “Tờ cam kết” đề ngày 19/5/1989 do cụ H2 lập (có người làm chứng và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L – Bút lục số 101), thì cụ C1 cho vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2, cụ Nguyễn Thị H2 (ông bà nội của ông Nguyễn Văn L3) cất nhà ở nhờ trên phần đất tranh chấp, với điều kiện “khi bán nhà là phải dỡ; khi vợ chồng tôi qua đời, tôi không được cho ai tiếp tục ở trên mảnh đất này...”. Như vậy, phần đất tranh chấp được xác định thuộc quyền sử dụng của cụ C, cụ C1.
[3] Thời điểm bà H kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa số 67 (ngày 20/4/2000) thể hiện nguồn gốc “cha mẹ cho năm 1988” thì cụ C (chết ngày 18/8/2001), cụ C1 (chết ngày 29/12/2003) còn sống, nhưng không có ý kiến phản đối hay tranh chấp nên có cơ sở xác định cụ C, cụ C1 đã cho bà H thửa đất này. Bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 67 vào ngày 14/11/2001.
[4] Sau khi cụ L2 chết, ông L3 cùng với vợ và các con đến sống cùng cụ H2 tại nhà đất tranh chấp. Theo Giấy chứng tử (Bút lục số 44), thì cụ H2 chết ngày 15/5/2000. Như vậy, việc gia đình ông L3 có được quyền tiếp tục ở trên phần đất tranh chấp hay không phụ thuộc vào ý chí của bên cho ở nhờ. Bà H không đồng ý cho gia đình ông L3 tiếp tục ở nhờ nên khởi kiện yêu cầu ông L3 và các thành viên trong gia đình trả lại phần đất tranh chấp là phù hợp với cam kết của cụ H2 đối với cụ C1 tại “Tờ cam kết” nêu trên.
[5] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định Bị đơn là “người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, ...” là không đúng trong trường hợp này. Mặt khác, khi ông L3 có ý định tháo dỡ nhà cũ (có kết cấu không đồng bộ, có mống đá, cột gỗ, thân khung gỗ, vách tôn, sàn gỗ căm xe, mái ngói) của cụ L2, cụ H2 để xây nhà kiêng cố đã bị bà H ngăn cản và chính quyền địa phương lập biên bản đình chỉ thi công.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L3 cho rằng ông không có chỗ ở nào khác nên đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà H. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 496 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ của bên mượn tài sản phải “trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được”. Như vậy, mục đích của cụ L2 và cụ H2 mượn tài sản để ở cho đến khi qua đời đã đạt được nên ông L3 là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải có nghĩa vụ trả lại tài sản cho bên cho mượn. Do đó, kháng cáo (cũng là yêu cầu khởi kiện) của Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Bị đơn tháo dỡ, di dời nhà, các vật kiến trúc và công trình khác trên đất, trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp cho Nguyên đơn là đúng với thỏa thuận giữa cụ H2 với cụ C1 khi mượn đất; đồng thời việc Nguyên đơn đồng ý hỗ trợ cho Bị đơn khoản chi phí tháo dỡ, di dời 200.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện nên chấp nhận.
[7] Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nhưng vẫn buộc bà H chịu án phí và chi phí tố tụng khác là không đúng. Do đó, buộc Bị đơn trả lại cho Nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.319.900 đồng.
[8] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[10] Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là bà Lâm Thị Xuân H. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Áp dụng: Điều 166, khoản 3 Điều 496 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lâm Thị Xuân H. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn L3.
- Buộc ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị X cùng các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời toàn bộ nhà chính, nhà tắm cùng hệ thống điện nước, sân phơi, mái che,... trên đất (theo Biên bản Đo đạc, Xem xét và Thẩm định tại chỗ ngày 07/11/2018 – Bút lục số 60), trả lại cho bà Lâm Thị Xuân H quyền sử dụng đất diện tích 114m², thuộc một phần thửa số 67, tờ bản đồ số 35, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (tại các điểm 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18, 19, 20 theo sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 17/12/2018 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C2).
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lâm Thị Xuân H hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời tài sản trên đất cho ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị X số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
- Buộc ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị X hoàn trả cho bà Lâm Thị Xuân H chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.319.900 (ba triệu ba trăm mười chín ngàn chín trăm) đồng.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Bà Lâm Thị Xuân H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Tuấn |
Bản án số 326/2024/DS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy gcn quyền sử dụng đất
- Số bản án: 326/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy GCN quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
