Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Bản án số: 326/2024/HS-ST

Ngày: 18/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Thẩm phán: Bà Lê Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Phong

Ông Nguyễn Ngọc Luân

Bà Lục Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn Q, sinh năm 1983.

ĐKHKTT: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Số B ngách A ngõ A đường L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1; có vợ Đoàn Thị H và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 08/6/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa;

D chỉ bản số [...] lập ngày 08/01/2022 tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q: Ông Trần Khắc T2, Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt tại phiên tòa;

* Bị hại: Công ty Cổ phần T3; địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà P, số D, ngõ A A, phường P, quận T, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Vũ H1, chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1969; nơi cư trú: P1701B chung cư Đ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, chức vụ: Trưởng phòng Pháp chế; có mặt tại phiên tòa;

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Hà B, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số B C5 T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/7/2022, ông Nguyễn Tuấn A (sinh năm 1969; trú tại: P chung cư Đ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội) là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T3 (gọi tắt là Công ty T3) đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H trình báo về việc: Trần Văn Q (là thủ kho của Công ty T3) có hành vi lấy máy điều hòa nhiệt độ tại kho của Công ty M đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Về pháp nhân Công ty T3: Công ty T3 được thành lập ngày 15/5/2003, mã số doanh nghiệp: 0101373921, đăng ký lần đầu ngày 15/5/2003, đăng ký thay đổi lần thứ 18 ngày 19/01/2022, có địa chỉ trụ sở chính tại: Tầng A tòa nhà P, số D A, phường P, quận T, thành phố Hà Nội, có ngành nghề kinh doanh chính là buôn bán máy điều hòa nhiệt độ, ông Bùi Vũ H1 là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật

Tháng 6/2012, Công ty T3 tuyển dụng Trần Văn Q làm nhân viên kỹ thuật, công việc chính là lắp đặt máy điều hòa nhiệt độ cho các khách hàng của Công ty. Ngày 01/10/2015, Công ty T3 có Quyết định số: QĐBN01102015 về việc bổ nhiệm Trần Văn Q giữ chức vụ thủ kho của Công ty từ ngày 01/10/2015. Trần Văn Q đảm nhiệm vai trò quản lý hàng hóa trong kho trên tất cả các khâu nhập - xuất hàng hóa ra khỏi kho, thống kê số liệu hàng tồn kho; có nhiệm vụ sắp xếp, bảo quản hàng hóa trong kho, phối hợp với kế toán kho đối chiếu các số liệu phát sinh hàng ngày, hàng tháng khớp với số liệu kế toán. Công ty T3 giao cho Q quản lý 02 kho hàng máy điều hòa của Công ty tại địa chỉ: số E H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội và ngõ A V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.

Đến ngày 07/7/2022, Công ty T3 phát hiện có chênh lệch hàng hóa thực tế so với sổ sách theo dõi nên đã tiến hành kiểm kê 02 kho hàng do Q phụ trách. Kết quả kiểm kê, phát hiện thiếu hụt 305 máy điều hòa nhiệt độ mới nguyên (gồm 110 máy điều hòa nhiệu độ nhãn hiệu Panasonic, 195 máy điều hòa nhiệt độ nhãn hiệu Daikin các loại) và 15 bộ điều khiển điều hòa các loại. Theo bảng giá niêm yết của Công ty thì tổng giá trị số hàng hóa Q chiếm đoạt là 3.454.223.980 đồng. Q đã ký vào “Biên bản kiểm kê kho” và tự viết 01 “Biên bản xác nhận vi phạm” thừa nhận với Công ty T3 về việc chiếm đoạt số máy điều hòa nhiệt độ trên của Công ty mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Công ty T3 yêu cầu Q khắc phục nhưng Q chỉ khắc phục được 100.000.000 đồng nên Công ty T3 có đơn tố giác hành vi của Trần Văn Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình, Q khai: Do được Công ty giao quản lý hàng hóa trong kho nên đầu năm 2020, Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt máy điều hòa nhiệt độ các loại trong kho của Công ty mang bán lấy tiền tiêu sài. Từ năm 2020 đến tháng 6/2022, Q đã chiếm đoạt 109 bộ điều hòa các loại tại kho hàng số 508 H và chiếm đoạt 196 bộ điều hòa, 15 bộ điều khiển điều hòa các loại tại kho hàng ở ngõ A V, mang bán cho nhiều người (không nhớ tên tuổi, địa chỉ), trong đó chủ yếu bán cho chị Nguyễn Thị Hà B, nhân viên Công ty TNHH T4 (gọi tắt là Công ty T4), địa chỉ tại số : phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Q không nhớ đã bán cho chị B (đại diện Công ty T4) bao nhiêu bộ máy điều hòa, không nhớ số tiền bán được là bao nhiêu, số tiền bán được Q đã chi tiêu cá nhân hết. Khi trao đổi mua bán, Q không nói cho chị B và những khách khác về nguồn gốc của số máy điều hòa đó là do Q chiếm đoạt của Công ty T3. Để không bị Công ty phát hiện khi kiểm kê kho định kỳ, Q đã dùng thủ đoạn xếp các thùng carton đựng máy điều hòa trong kho theo hình khối chữ nhật để rỗng lõi ở giữa, khi tiến hành kiểm kê định kỳ, người kiểm kê kho chỉ đếm số lượng máy điều hòa theo hàng, cột rồi nhân lên, do đó không phát hiện có sự thiếu hụt hàng hóa trong kho. Ngoài ra Q còn sử dụng tài khoản “Anh Q (H)” đăng nhập vào ứng dụng bán hàng của Công ty T3 để tạo khống các đơn hàng đặt mua máy điều hòa các loại nhằm hợp thức hóa số lượng máy điều hòa Q đã chiếm đoạt trước đó. Sau khi bị Công ty T3 phát hiện hành vi, Q đã khắc phục cho Công ty 100.000.000 đồng, số tiền còn lại Q chưa trả lại được cho Công ty.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu Hội đồng định giá xác định giá trị tài sản Q chiếm đoạt. Tại bản kết luận định giá tài sản số 68 ngày 20/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hà Nội, kết luận: Toàn bộ số máy điều hòa, bộ điều khiển điều hòa Trần Văn Q đã chiếm đoạt của Công ty T3

tại thời điểm tháng 7/2022 có giá trị là 3.165.118.053 đồng (Giá trị đã bao gồm thuế GTGT).

Tại bản kết luận giám định số 7356/KL-KTHS ngày 24/10/2022 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: chữ ký đứng tên Trần Văn Q trên biên bản kiểm kê kho hàng (đến hết ngày 7/7/2022) và biên bản xác nhận vi phạm là chữ ký do Trần Văn Q ký ra.

Đối với chị Nguyễn Thị Hà B: Chị B khai từ năm 2016 đến nay, chị B làm việc tại Công ty T4 với nhiệm vụ phân phối, mua bán mặt hàng điều hòa nhiệt độ các nhãn hiệu. Công ty T4 thường xuyên mua máy điều hòa nhiệt độ của Công ty T3 với giá trị hàng hóa khoảng 200 tỷ đồng. Khi mua hàng của Công ty T3, chị B sẽ liên hệ với nhân viên kinh doanh của Công ty T3 hoặc liên hệ với Q để hỏi về số lượng và chủng loại máy điều hòa, sau đó sẽ đặt mua và thanh toán tiền cho Công ty hoặc cho Q để Q trả về Công ty. Khi giao dịch mua bán với Q, chị B nghĩ là Q đại diện Công ty T3, không biết việc Q chiếm đoạt máy điều hòa nhiệt độ của Công ty T3 mang đi bán. Toàn bộ số máy điều hòa mua của Q, Công ty T4 đã bán hết cho khách hàng. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Công ty T4 cũng như cá nhân chị Nguyễn Thị Hà B.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty T3 yêu cầu Trần Văn Q bồi thường số tiền 3.354.223.980 đồng.

Cáo trạng số 181/CT-VKS-P3 ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện hợp pháp của Công ty T3 khai bị Trần Văn Q chiếm đoạt tài sản theo đúng nội dung như cáo trạng đã nêu. Đại diện của Công ty T3 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty và đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 15-16 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: xét tính chất phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Trần Văn Q phải bồi thường cho Công ty T3 số tiền 3.065.118.053 đồng.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho chị Nguyễn Thị Hà B 01 điện thoại di động Samsung màu ghi do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Q.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q nhất trí với quan điểm truy tố về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã có ý thức bồi thường một phần thiệt hại cho Công ty T3 và tích cực tác động gia đình để bồi thường cho bị hại; đại diện hợp pháp của Công ty T3 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Văn Q theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Chị Nguyễn Thị Hà B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy chị B đã có lời khai và ý kiến trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của chị B không gây trở ngại đến việc xét xử, giải

quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Tháng 6/2012 Trần Văn Q được tuyển dụng làm nhân viên tại Công ty cổ phần T3. Từ ngày 01/10/2015, Trần Văn Q được bổ nhiệm, phân công làm thủ kho và được giao nhiệm vụ quản lý hàng hóa trong 02 kho hàng máy điều hòa các loại của Công ty tại địa chỉ số E H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội và số A V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, khoảng thời gian từ đầu năm 2020 đến tháng 6/2022, Trần Văn Q nhiều lần chiếm đoạt tổng số 305 máy điều hòa các loại và 15 bộ điều khiển điều hòa có tổng trị giá 3.165.118.053 đồng từ 02 kho hàng của Công ty mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến nay, Q đã khắc phục cho Công ty T3 số tiền 100.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Văn Q đã cấu thành tội “Tham ô tài sản” với tình tiết “Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Cáo trạng số 181/CT-VKS-P3 ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ bản thân được giao nhiệm vụ thủ kho, có trách nhiệm trông giữ, bảo quản hàng hóa nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý chiếm đoạt. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh để trừng trị, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong đời sống xã hội.

Về nhân thân, bị cáo Trần Văn Q chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Trần Văn Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã có ý thức khắc phục một phần số tiền đã chiếm đoạt của bị hại; tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có người thân (ông nội và bà nội) là người có công với cách mạng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Văn Q, Hội đồng xét xử xét thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, xem xét hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, xem xét bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải.

[5]Bị cáo Trần Văn Q được trừ thời gian đã bị tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày bị tạm giam được tính trừ một ngày tù.

[6]Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn Q bồi thường cho Công ty Cổ phần T3 số tiền 3.165.118.053 đồng.

Xác nhận bị cáo đã khắc phục số tiền 100.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần T3, còn phải bồi thường số tiền 3.065.118.053 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động Samsung mầu ghi bạc của chị Nguyễn Thị Hà B. Xét thấy vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Văn Q nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho chị B.

[9]Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Văn Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tham ô tài sản”

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự

    Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/6/2023.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn Q bồi thường cho Công ty Cổ phần T3 số tiền 3.065.118.053 (Ba tỷ, không trăm sáu mươi lăm triệu, một trăm mười tám nghìn, không trăm năm mươi ba) đồng.

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất phát sinh trên số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    Trả cho chị Nguyễn Thị Hà B: 01 điện thoại di động Samsung mầu ghi bạc, số Imei: 352630604417079, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động.

    (Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội ngày 02/11/2023).

  4. Về án phí:

    áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn Q phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 93.302.361 (Chín mươi ba triệu, ba trăm linh hai nghìn, ba trăm sáu mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Án xử công khai sơ thẩm,

    bị cáo Trần Văn Q, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 18/6/2024.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 326/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tham ô tài sản

  • Số bản án: 326/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tháng 6/2012 Trần Văn Q được tuyển dụng làm nhân viên tại Công ty cổ phần T3. Từ ngày 01/10/2015, Trần Văn Q được bổ nhiệm, phân công làm thủ kho và được giao nhiệm vụ quản lý hàng hóa trong 02 kho hàng máy điều hòa các loại của Công ty tại địa chỉ số E H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội và số A V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, khoảng thời gian từ đầu năm 2020 đến tháng 6/2022, Trần Văn Q nhiều lần chiếm đoạt tổng số 305 máy điều hòa các loại và 15 bộ điều khiển điều hòa có tổng trị giá 3.165.118.053 đồng từ 02 kho hàng của Công ty mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến nay, Q đã khắc phục cho Công ty T3 số tiền 100.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger