Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 326/2024/DS-ST.

Ngày: 10/9/2024.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Duyên.

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Mai Thị Nguyệt;
  2. Ông Nguyễn Kim Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Bảo Trân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 576/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1358/2024/QĐXXST-DS ngày 02/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1829/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Địa chỉ: 2 Đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trọng N – Sinh năm 1994.

Địa chỉ: Số A Đường L, Ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Văn T – Sinh năm 1979

Địa chỉ: A Ấp A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Trọng N trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và ông Phạm Văn T đã ký 02 hợp đồng tín dụng bao gồm:

1/ Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021. Theo đó ông T đã vay số tiền: 500.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 27/12/2021.

Thời hạn vay: 300 tháng, thời hạn trả nợ là ngày 27/12/2046.

- Mục đích vay vốn: Chuyển nhượng Bất động sản.

- Trả nợ gốc và lãi vào ngày 10 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 10/01/2022.

- Lãi suất cho vay: 11%/năm cố định trong 12 tháng đầu tiên. Từ tháng thứ 13 đến hết tháng thứ 60 lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay cộng biên độ 4%/năm, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Từ tháng thứ 61 trở đi, lãi suất được cho vay được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay cộng biên độ 5%/năm, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần.

- Biện pháp bảo đảm tiền vay: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất số 813, tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc sở hữu riêng của ông Phạm Văn T.

Thực hiện hợp đồng, ông T đã trả cho Ngân hàng số tiền 107.081.512 đồng bao gồm nợ gốc và nợ lãi. Kể từ ngày 10/05/2023, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ còn lại sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 09/9/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền là 562.644.277 đồng (bằng chữ: Năm trăm sáu mươi hai triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 471.661.000 đồng, lãi trong hạn: 4.741.896 đồng, lãi trong hạn quá hạn: 77.490.873 đồng, lãi phạt quá hạn: 5.334.721 đồng, lãi quá hạn: 3.415.787 đồng,

2/ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023 bao gồm bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ quan hệ tín dụng của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông T thẻ tín dụng VS payWave Cre Classic-KH số thẻ 472074 - 0407 với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 100.000.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã trả cho Ngân hàng số tiền (gồm gốc và lãi) là 10.000.000 đồng.

Ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nên đến ngày 10/8/2023, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại của ông T là 107.355.287 đồng sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 09/9/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền là: 154.459.487 đồng, trong đó: Nợ gốc: 107.355.287 đồng; Nợ lãi: 47.104.200 đồng.

Tổng cộng số tiền ông T còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 09/9/2024 là 717.103.764 đồng.

Nay, Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu ông Phạm Văn T phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền tính đến ngày 09/9/2024 là: 717.103.764 đồng (bằng chữ: Bảy trăm mười bảy triệu một trăm lẻ ba nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/9/2024 cho đến ngày trả hết số nợ theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Trường hợp ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất số 813, tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số vào sổ cấp GCN CH 00448 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 21/7/2011, cập nhật sang tên ông Phạm Văn T ngày 22/12/2021 để thu hồi nợ.

Nếu số tiền phát mại tài sản đảm bảo không đủ trả hết khoản nợ của ông T tại Ngân hàng, ông T phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Ngân hàng yêu cầu ông T trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng là 10.000.000 đồng.

Bị đơn ông Phạm Văn T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông T không có gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua phần tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết là nơi thực hiện hợp đồng nên theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn T là bị đơn mặc dù mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về yêu cầu của các đương sự:

[2.1] Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn T trả số tiền tính đến ngày 09/9/2024 là: 717.103.764 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh tính theo mức lãi suất đã thỏa thuận kể từ ngày 10/9/2024 đến ngày trả hết nợ. Phương thức trả: Trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử xét:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021, Giấy nhận nợ số LD2136100766 ngày 27/12/2021 và Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 18 tháng 01 năm 2023 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng) có số thẻ 472074 – 0407 có đủ cơ sở kết luận ông T và Ngân hàng đã phát sinh giao dịch dân sự là vay tài sản. Cụ thể như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021, ông T vay số tiền 500.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 27/12/2021.
  • Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng VS payWave Cre Classic-KH số 472074 - 0407 với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023.

Ông T đã nhận đủ tiền vay là 500.000.000 theo Giấy nhận nợ ngày 27/12/2021 và sử dụng Thẻ tín dụng để thực hiện các giao dịch. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã trả được một phần nợ gốc và lãi theo từng hợp đồng tín dụng. Từ ngày 10/5/2023, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Việc ông T không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng đã vi phạm các quy định trong thỏa thuận cho vay đã được ông T ký với Ngân hàng tại các Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước thời hạn, chấm dứt hợp đồng tín dụng nêu trên và yêu cầu ông T trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh là có căn cứ.

Tính đến ngày 09/9/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là: 717.103.764 đồng, trong đó:

  • Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021, ông T còn nợ số tiền 562.644.277 đồng, trong đó: Nợ gốc: 471.661.000 đồng; Lãi trong hạn quá hạn: 77.490.873 đồng; Lãi phạt quá hạn: 5.334.721 đồng; Lãi quá hạn: 3.415.787 đồng; Lãi trong hạn phải thu: 4.741.896 đồng.
  • Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng VS payWave Cre Classic-KH số thẻ472074 - 0407 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023, ông T còn nợ số tiền 154.459.487 đồng, trong đó: Nợ gốc: 107.355.287 đồng; Nợ lãi: 47.104.200 đồng.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông T có trách nhiệm trả số tiền còn nợ của 02 hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 09/9/2024 tổng cộng là 717.103.764 đồng, trong đó: Nợ gốc: 579.016.287 đồng; Nợ lãi: 138.087.477 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 10/9/2024 cho đến khi ông T trả hết nợ theo mức lãi suất được quy định trong các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu trong trường hợp ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trả không đầy đủ số tiền gốc và tiền lãi hoặc vi phạm thời hạn thanh toán nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ.

Hội đồng xét xử xét:

Để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021, ông T đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 813, tờ bản đồ số 15, địa chỉ tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BE 600382, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00448 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 21/07/2011 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 7447 ngày 27/12/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/12/2021.

Tài sản thế chấp nêu trên thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của ông T, việc ông T đồng ý dùng tài sản của mình để thế chấp đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, các bên đã thực hiện đúng quy định về thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 nên có giá trị ràng buộc đối với các bên đã ký kết trong hợp đồng thế chấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của Ngân hàng để thu hồi nợ nếu ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 7447 ngày 27/12/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/12/2021.

Trong trường hợp số tiền phát mại tài sản nêu trên không đủ thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng, ông T tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ còn thiếu cho Ngân hàng đến khi thực trả hết nợ.

Đối với khoản vay của Thẻ tín dụng VS payWave Cre Classic-KH số 472074 - 0407theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023, ông T không có thế chấp tài sản để đảm bảo khoản vay và Ngân hàng cũng không yêu cầu phát mại tài sản thế chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng yêu cầu T trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng là 10.000.000 đồng.

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, Ngân hàng không phải chịu chi phí này. Vì vậy, ông T có trách nhiệm hoàn trả một lần cho Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 41, 295, 299, 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010.

Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc ông Phạm Văn T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 09/9/2024 là: 717.103.764 đồng (Bảy trăm mười bảy triệu một trăm lẻ ba nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng), trong đó: Nợ gốc: 579.016.287 đồng; Nợ lãi: 138.087.477 đồng theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021 và Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 18 tháng 01 năm 2023 có số thẻ 472074 – 0407.

Phương thức trả: trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Phạm Văn T có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/9/2024 theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021 và Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 18 tháng 01 năm 2023 có số thẻ 472074 – 0407 cho đến khi trả hết nợ.

Trong trường hợp ông Phạm Văn T không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/12/2021 thì Ngân hàng thương mại cổ phần S được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 813, tờ bản đồ số 15, địa chỉ tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BE 600382, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00448 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 21/07/2011 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 7447 ngày 27/12/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/12/2021 để thu hồi nợ.

Trường hợp số tiền phát mại tài sản nêu trên không đủ trả số tiền nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, ông T tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ còn thiếu cho Ngân hàng đến khi thực trả hết nợ. Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại lớn hơn số nợ ông T còn phải trả cho Ngân hàng thì ông Phạm Văn T được quyền hưởng giá trị chênh lệch lớn hơn này.

Trường hợp ông Phạm Văn T trả đủ số nợ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản thế chấp thì Ngân hàng thương mại cổ phần S phải tiến hành giải chấp và trả lại cho ông Phạm Văn T toàn bộ hồ sơ bản chính của tài sản thế chấp mà Ngân hàng đang giữ.

2/ Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Văn T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

3/Án phí dân sự sơ thẩm là: 32.684.151 đồng, ông Phạm Văn T phải chịu.

Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.409.753 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0007784 ngày 08/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Nhà Bè;
  • - CC THADS huyện Nhà Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Doãn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 326/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 326/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger