|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 326/2023/HS-ST Ngày 02-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1./ Ông Nguyễn Hữu Long.
2./ Ông Phan Đức Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk
Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 02/11/2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 328/2023/TLST-HS ngày 06/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 335/2023/QĐXXST-HS ngày 17/10/2023 đối với các bị cáo:
1./ Họ và tên: Nguyễn Duy V. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 03 năm 1993; tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Số A L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1966 và con bà Lê Thị N, sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 17/5/2016 và ngày 12/7/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm tuyên phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (tại bản án số 103/2016/HS-ST và 244/2016/HS-PT, đã được xóa án tích).
Ngày 16/7/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm tuyên phạt 01 năm 03 tháng năm tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (tại bản án số 179/2019/HSST, đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 20/6/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2./ Họ và tên: Nguyễn Thị T. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02 tháng 7 năm 2003; tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký HKTT: Thôn E, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Số A L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974 và con bà Vũ Thị T1, sinh năm 1975; Bị cáo chưa chồng; Bị cáo có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 20/6/2023 cho đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn P, sinh năm 1968 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T có mối quan hệ tình cảm và cùng là đối tượng nghiện ma túy đá (Methamphetamine). Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 20/6/2023, V và T đang ở phòng số 406 nhà nghỉ P2 tại địa chỉ 1 L, phường T, thành phố B, thì có một người bạn nam giới tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch), mang đến 02 gói ma túy đá để cùng sử dụng với V, T. Lúc này, một người phụ nữ tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook “Trang K” nhắn tin đến tài khoản Facebook “Tèo N1” đăng nhập trên điện thoại di động hiệu Samsung, màu xám, gắn sim số 0826.052.240 của V, hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá. V nói với T và H1 có người mua ma túy đá thì H1 đồng ý bán và gom 02 gói ma túy đá thành 01 gói để bán. Trong lúc chờ người mua ma túy đến, H1 đi về trước và thỏa thuận khi V, T bán được ma túy thì đưa lại tiền cho H1. Khoảng 14 giờ cùng ngày, người mua ma túy đến nên V lấy gói ma túy bỏ vào khe dán nhãn hiệu của chai nhựa rồi đưa cho T để mang ra ngoài bán cho người phụ nữ trên. T cầm chai nhựa bên trong nhãn dán có ma túy, cất giấu tại khu vực hành lang, đối diện cầu thang bộ, bên cạnh thùng đựng rác, cách phòng 406 khoảng 05m để bán nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 chai nhựa có dán nhãn hiệu Win bên trong nhãn dán có 01 gói nylon màu trắng chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (đã được niêm phong theo quy định của pháp luật).
Tại Kết luận giám định số 774/KL- KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) gói nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3601 gam, loại Methamphetamine.
Mẫu vật còn lại sau giám có khối lượng 0,3392 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 328/CT-VKS ngày 05/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy V từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.
- Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xám, gắn sim số 0826.052.240.
Các vấn đề khác đề nghị HĐXX chấp nhận như nội dung tại bản Cáo trạng.
Các bị cáo không tranh luận nội dung gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận nội dung gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/6/2023, tại nhà nghỉ P2, địa chỉ 1 L, phường T, thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T có hành vi cất giấu 0,3601 gam ma túy, loại Methamphetamine để bán kiếm lời.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Các bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được M là chất ma túy gây nghiện, làm hủy hoại sức khỏe con người, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự tại địa phương, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm sự thống nhất quản lý ma túy của Nhà nước. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò khi thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.
[3] Về vai trò: Trong vụ án này có hai bị cáo tham gia, xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo là khác nhau nên cần phân hóa tội phạm trên cơ sở đánh giá, phân tích để định cho từng bị cáo một mức hình phạt phù hợp.
Bị cáo V là nhận lời bán ma túy cho đối tượng tên H1, là người trực tiếp giao dịch mua bán ma túy với đối tượng tên T (Không rõ nhân thân, lai lịch) thông qua tài khoản trên mạng xã hội Facebook và chuẩn bị ma túy giao cho T mang ra ngoài bán cho người phụ nữ nói trên. Bị cáo T là người tham gia tích cực, giúp bị cáo V bán ma túy để kiếm lời. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo V cao hơn bị cáo T.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Duy V có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên. HĐXX xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Đối với 0,3392 gam ma túy loại Methamphetamine và bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 774/KL- KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, bên ngoài phong bì có chữ ký niêm phong của Phạm Xuân T2 và Nguyễn Bá H2 là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám, Imei mặt lưng: 356446/08/506151/8, gắn sim số thuê bao 0826052240. Điện thoại bị vỡ màn hình. Không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong, không kiểm tra số sim do nhà mạng đã khóa của T được V sử dụng vào việc phạm tội.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với nguồn ma túy, các bị cáo khai nhận của đối tượng nam giới tên H1 đưa cho các bị cáo bán, đối tượng nữ giới sử dụng tài khoản Facebook “Trang K” mua ma túy của các bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách hành vi của các đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1968, trú tại 1 L, phường T, thành phố B, là chủ sở hữu của nhà nghỉ P2 tại địa chỉ nêu trên. Ông P1 đã có đơn tố giác tội phạm và phối hợp làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra nên không đề cập truy cứu trách nhiệm hình sự và không đề nghị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo V, T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy V: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/6/2023.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T: 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/6/2023.
[2] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu, tiêu hủy 0,3392 gam ma túy loại Methamphetamine và bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 774/KL- KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, bên ngoài phong bì có chữ ký niêm phong của Phạm Xuân T2 và Nguyễn Bá H2.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám, Imei mặt lưng: 356446/08/506151/8, gắn sim số thuê bao 0826052240. Điện thoại bị vỡ màn hình. Không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong, không kiểm tra số sim do nhà mạng đã khóa.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2023 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Nguyễn Duy V, Nguyễn Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 326/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 326/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy V + Đồng bọn
