|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 326/2025/DS-ST
Ngày 12-12-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Huy Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 167/2025/TLST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 332/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 301/2025/QĐST- DS, ngày 24 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB), địa chỉ trụ sở: Số A đường L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội (nay là phường T, Thành phố Hà Nội).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Anh D, chức vụ: Tổng giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Q1 và khai thác tài sản ngân hàng thương mại cổ phần Q, (văn bản ủy quyền số 162 ngày 21/02/2025)
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Văn Đ, chức vụ Người đứng đầu công ty trách nhiệm hữu hạn Q1 và khai thác tài sản ngân hàng thương mại cổ phần Q – chi nhánh Đ1, (văn bản ủy quyền số 1844.1 ngày 21/02/2025).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Trường C, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ công ty trách nhiệm hữu hạn Q1 và khai thác tài sản ngân hàng thương mại cổ phần Q (văn bản ủy quyền số 1057 ngày 24/6/2025), có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm: 1991 và bà Lê Thị L, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: Số E đường L, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh), vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Lê Văn T2, địa chỉ: T đất số 6462, tờ bản đồ 41, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh), vắng mặt.
2/ Công ty TNHH Y.
Địa chỉ: T đất số 6462, tờ bản đồ 41, khu phố B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh)
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lầu Cá P, chức vụ: Giám đốc, vắng mặt có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 04 năm 2025 và lời khai trong quá trình tổ tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M) - chi nhánh N và bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 đã ký kết hợp đồng tín dụng cùng các khế ước nhận nợ như sau: Hợp đồng số 0001.23.130.23175999.TD ngày 11/12/2023; số khế ước LD2334576016; mục đích vay: thanh toán tiền mua bất động sản tại thửa đất số 6462, tờ bản đồ số 41 tại thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; ngày nhận nợ: 11/12/2023; lãi suất: 11,6%/năm; ngày đến hạn: 12/2047; số tiền phát vay: 3.000.000.000 đồng và hợp đồng số 2.23.130.23175999.TD ngày 21/11/2024; khế ước số LD2432677042 và số LD2432643701; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh tạo hóa; ngày nhận nợ: 21/11/2024; lãi suất: 7.4%/năm; ngày đến hạn: 10/2025; số tiền vay 1,630,000,000 và 1,650,000,000. Tổng số tiền giải ngân: 6,280,000,000 đồng (sáu tỷ hai trăm tám mươi triệu đồng).
Để đảm bảo cho các khoản vay của bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 theo hợp đồng số 0001.23.130.23175999.TD ngày 11/12/2023 và hợp đồng số 2.23.130.23175999.TD ngày 21/11/2024 trên, bà L và ông T1 đã thế chấp tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 6462, tờ bản đồ số: 41; địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 344145, số vào sổ cấp GCN: CN33413 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 11/12/2023. Tài sản bảo đảm nêu trên được thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 256243.23.130.23175999.BĐ ngày 13/12/2023; số công chứng: 6030, Quyển số: 12/2023TP/CC - SCC/HĐGD và được đăng lý giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà L, ông T1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ dẫn đến khoản vay bị quá hạn từ ngày 26/12/2024. Dư nợ tạm tính của bà L, ông T1 tính đến ngày 12/12/2025 tại ngân hàng T3 là 6.737.716.921 đồng, trong đó dư nợ gốc là 6,154,999,864, dự nợ lãi là 582.717.057 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn là 11.452.055 đồng, lãi quá hạn là 545.488.122 đồng, lãi phạt là 25.776.880 đồng. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) yêu cầu:
- Buộc bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q theo hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ trên với số tiền (tạm tính đến hết ngày 12/12/2025) là: 6,737,716,921 đồng (sáu tỷ, bảy trăm ba mươi bảy triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, chín trăm hai mươi mốt đồng), trong đó bao gồm 6,154,999,864 đồng nợ gốc; 582,717,057 đồng nợ lãi (trong đó: số tiền nợ lãi trong hạn là: 11,452,055 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là: 545,488,122 đồng; lãi phạt: 25,776,880 đồng).
- Kể từ ngày 13/12/2025, bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận quy định tại hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q;
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q, tài sản bảo đảm là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 6462, tờ bản đồ số: 41; địa chỉ: Thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM344145, vào sổ cấp GCN: CN33413 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 11/12/2023.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Nếu số tiền thu được từ bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
* Bị đơn ông Nguyễn Hữu T1, bà Lê Thị L: Quá trình tố tụng giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập ông T1, bà L để có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông T1 và bà L vắng mặt trong suốt thời gian tố tụng giải quyết vụ án, không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại Bản tự khai ngày 25/8/2025, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan công ty trách nhiệm hữu hạn Y, bà Lầu Cá P trình bày:
Đối với các yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu T1 và bà Lê Thị L, công ty trách nhiệm hữu hạn Y không ý kiến gì. Hiện tại, công ty có thuê kho, xưởng của ông Lê Văn T2 xây dựng để hoạt động công ty, công ty chỉ có các tài sản là máy móc của công ty, ngoài ra không còn tài sản nào khác trên thửa đất đang thế chấp tại ngân hàng Q. Nếu trường hợp phải kê biên, phát mãi thửa đất và các tài sản trên đất thì công ty không có ý kiến gì, công ty đồng ý dọn các máy móc đi. Nếu phải phát mãi thửa đất mà công ty đang thuê có ảnh hưởng tới hợp đồng thuê kho, xưởng và đất của công ty và ông T2 thì công ty khởi kiện bằng một vụ án khác khi phát sinh quyền lợi công ty bị ảnh hưởng. Ngoài ra công ty trách nhiệm hữu hạn Y không còn yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2: Quá trình tố tụng giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập ông T2 để có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông T2 vắng mặt trong suốt thời gian tố tụng giải quyết vụ án, không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thế chấp thuộc thửa 6462, tờ bản đồ số: 41, có diện tích 9.789,7m² (đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến tháng 08/2048); địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Trên đất có các tài sản gắn liền như sau: 01 Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu như sau: Tường gạch xây tô sơn nước, nền gạch men, trần thạch cao, cửa sắt + kính, 01 đồng hồ nước, 01 đồng hồ điện tài sản này hiện do ông Lê Văn T2 sử dụng để ở, ngoài ra không còn ai khác. 01 nhà Xưởng có kết cấu như sau: Tường gạch xây lửng, mái tôn, khung cột sắt, nền gạch, có diện tích xây dựng 1.000m², 01 đồng hồ nước, 01 đồng hồ điện nhà xưởng hiện do Công ty trách nhiệm hữu hạn Y thuê sử dụng. Ngoài ra trên đất còn một số cây ăn trái mới trồng được 02 năm tuổi các đương sự thống nhất không tranh chấp. Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gấn liền với đất do ông Lê Văn T2 xây dựng. Năm 2023, ông T2 đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1. Ông T1, bà L đăng ký biến động và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM.344145 số vào sổ cấp GCN: CN.33413 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 11/12/2023, tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tên Lê Thị Lệ .
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật tố tụng; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông C có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Y có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông T1 và bà L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T2 vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy: hợp đồng cho vay số 0001.23.130.23175999.TD ngày 11/12/2023, hợp đồng cho vay số 2.23.130.23175999.TD ngày 21/11/2023 được ký kết giữa người đại diện hợp pháp của Ngân hàng thương mại cổ phần Q - Chi nhánh N và bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội. Thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ, phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Tổng số tiền Ngân hàng thương mại cổ phần Q đã giải ngân cho bà L, ông T1 theo các hợp đồng tín dụng nói trên là 6,280,000,000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L và ông T1 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký, cụ thể khoản vay bị quá hạn từ ngày 26/12/2024. Như vậy bị đơn bà L và ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại khoản 2 Điều 5 tại các hợp đồng tín dụng cụ thể đã giao kết giữa hai bên. Nay nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q yêu cầu thu hồi nợ trước hạn và yêu cầu bị đơn bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 12/12/2025 là 6,737,716,921 đồng (sáu tỷ, bảy trăm ba mươi bảy triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, chín trăm hai mươi mốt đồng), trong đó bao gồm 6,154,999,864 đồng nợ gốc; 582,717,057 đồng nợ lãi (trong đó số tiền nợ lãi trong hạn là 11,452,055 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 545,488,122 đồng; lãi phạt là 25,776,880 đồng) và tiền lãi quá hạn tiếp tục tính từ ngày 13/12/2025 cho đến khi thanh toán hết số nợ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về số tiền nợ lãi: Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “... Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật”. Theo hợp đồng tín dụng thì lãi suất cho vay là 11,6%/năm và 7,4%/năm, lãi suất quá hạn = 150%, lãi suất chậm trả là 10%/năm. Xét thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng trên không trái với quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 cũng như quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng tại thời điểm ký kết hợp đồng nên có hiệu lực.
[2.2] Đối với bị đơn, quá trình tố tụng giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập ông T1, bà L để có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông T1, bà L vắng mặt trong suốt thời gian tố tụng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn, ông T1, bà L có quyền đưa ra các chứng cứ để chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn, ông T1, bà L không thực hiện xem như từ bỏ quyền chứng minh của mình.
[3] Về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: Đối với quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 6462, tờ bản đồ số: 41, có diện tích 9.789.7m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến tháng 08/2048; địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 344145, số vào sổ cấp GCN: CN33413 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 11/12/2023, tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tên Lê Thị Lệ .
Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất này được bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay của bà L, ông T1 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 256243.23.130.23175999.BĐ, ngày 13/12/2023, số công chứng: 6030, Quyển số: 12/2023TP/CC - SCC/HĐGD và được đăng ký Giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp được giao kết giữa bà L, ông T1 và Ngân hàng thương mại cổ phần Q được công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp, thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật và tuân thủ quy định về hình thức nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Tại các khoản 6.1, 6.1.1 Điều 6 của hợp đồng thế chấp áp dụng đối với tài sản lá bất động sản ngày 13/12/2023 quy định:
6.1. “MB được xử lý TSTC khi thuộc một trong các trường hợp sau”
6.1.1 “Nghĩa vụ được bảo đảm theo hợp đồng này không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ khi đến hạn hoặc trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước hạn theo quy định tại các hợp đồng cấp tín dụng...”.
Nay bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng nên có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh, báo cáo kết quả tư vấn thẩm định tài sản ngày 13/12/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần Q thể hiện tại thời điểm thế chấp đã có các tài sản trên đất, các tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của bà L, ông T1 (gồm nhà xưởng, nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng). Ngoài ra, các bên có ký kết hợp đồng thế chấp song phương quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai. Như vậy hai bên thực tế có thỏa thuận về việc thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, các tài sản gắn liền với đất hiện nay bao gồm: Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu như sau: Tường gạch xây tô sơn nước, nền gạch men, trần thạch cao, cửa sắt + kính, 01 đồng hồ nước, 01 đồng hồ điện. 01 nhà xưởng xó kết cấu như sau: Tường gạch xây lững, mái tôn, khung cột sắt, nền gạch, có diện tích xây dựng 1.120m², 01 đồng hồ nước, 01 đồng hồ điện. Trường hợp chị L, anh T1 không thanh toán nợ đúng hạn thì nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[3.1] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, công ty trách nhiệm hữu hạn Y đang thuê nhà xưởng để hoạt động, hợp đồng thuê với ông Lê Văn T2. Người đại diện theo pháp luật của công ty trình bày “Đối với các yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu T1 và bà Lê Thị L, công ty trách nhiệm hữu hạn Y không ý kiến gì. Hiện tại, công ty có thuê kho, xưởng của ông Lê Văn T2 xây dựng để hoạt động công ty, công ty chỉ có các tài sản là máy móc của công ty, ngoài ra không còn tài sản nào khác trên thửa đất đang thế chấp tại ngân hàng Q. Nếu trường hợp phải kê biên, phát mãi thửa đất và các tài sản trên đất thì công ty không có ý kiến gì, công ty đồng ý dọn các máy móc đi. Nếu phải phát mãi thửa đất mà công ty đang thuê có ảnh hưởng tới hợp đồng thuê kho, xưởng và đất của công ty và ông T2 thì công ty khởi kiện bằng một vụ án khác khi phát sinh quyền lợi công ty bị ảnh hưởng. Ngoài ra công ty trách nhiệm hữu hạn Y không còn yêu cầu gì khác”. Trong vụ án công ty trách nhiệm hữu hạn Y không có yêu cầu độc lập, phản tố, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng ý dọn máy móc đi nếu phải phát mãi tài sản nên ghi nhận. Giữa công ty và ông T2 có tranh chấp về hợp đồng thuê kho xưởng ngày 03/11/2024 sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 đang sử dụng 01 nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng. Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T2 để có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông T2 vắng mặt trong suốt thời gian tố tụng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Ông T2 có quyền đưa ra các chứng cứ để chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập, phản tố, ý kiến về tài sản ông đang ở nhưng ông T2 không thực hiện xem như từ bỏ quyền chứng minh của mình.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền 5.000.000 đồng, bị đơn phải chịu và thanh toán lại cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147 và các Điều 157, 158, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ các Điều: 317, 318, 319, 320, 323, 325 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
- - Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với bị đơn bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền (tạm tính đến hết ngày 12/12/2025) 6,737,716,921 đồng (sáu tỷ, bảy trăm ba mươi bảy triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, chín trăm hai mươi mốt đồng), trong đó bao gồm 6,154,999,864 đồng nợ gốc; 582,717,057 đồng nợ lãi (trong đó số tiền nợ lãi trong hạn là 11,452,055 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 545,488,122 đồng; lãi phạt là 25,776,880 đồng);
- Kể từ ngày 13/12/2025, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 còn phải thánh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ nêu trên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;
- Trường hợp, bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiền hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay đề thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q, tài sản bảo đảm là:
Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 6462, tờ bản đồ số: 41; có diện tích 9.789,7m² đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến tháng 08/2048, địa chỉ thửa đất: Thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí minh) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM344145, số vào sổ cấp GCN: CN33413 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 11/12/2023 BM10A.7-04-THN.
Các tài sản thế chấp gắn liền với quyền sử dụng đất được thể hiện trong biên bản xem xét, thẩm định ngày 11/8/2025, tài sản phát sinh thêm (nếu có), cụ thể:
Nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu như sau: Tường gạch xây tô sơn nước, nền gạch men, trần thạch cao, cửa sắt + kính, 01 đồng hồ nước, 01 đồng hồ điện. 01 nhà Xưởng xó kết cấu như sau: Tường gạch xây lững, mái tôn, khung cột sắt, nền gạch, có diện tích xây dựng 1.000m², 01 đồng hồ nước, 01 đồng hồ điện.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết các khoản nợ thì bà Lê Thị L, ông Nguyễn Hữu T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 phải trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 5.000.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu T1 phải chịu 114.737.717 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q 57.181.671 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004161 ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngay tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Huy Cường |
Bản án số 326/2025/DS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 326/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng, Lệ Thuận
