Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 326/2024/HC-PT

Ngày 04/6/2024

“Khiếu kiện quyết định hành chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;

Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;

Bà Lê Thị Mai.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Minh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử trực tuyến vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 117/2024/TLPT-HC ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 98/2023/HC-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5211/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thế T; địa chỉ: Tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Người bị kiện:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q; địa chỉ: Số B đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q: Luật sư Đỗ Tuấn N - Công ty L2 chi nhánh H2; Địa chỉ: Tổ G, khu I, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là ông Nguyễn Tiến D; địa chỉ: Số B B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh: Ông Phạm Lê H, chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: Số B B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến D, chức vụ: Chủ tịch U; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh: Ông Phạm Lê H, chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H; có mặt.

- Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: Phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trường S, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Bà Vũ Thị V và ông Nguyễn Thế L; cùng địa chỉ: Tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Thế T trình bày:

Ngày 01/10/2019, ông Nguyễn Hữu H1 (người được ủy quyền) nộp hồ sơ đề nghị đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu tại Trung tâm hành chính công thành phố H.

Ngày 22/10/2019, Trung tâm hành chính công thành phố H trả lại hồ sơ cho ông T với lý do UBND phường H và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H căn cứ Văn bản chỉ đạo của UBND thành phố H số 7041/UBND ngày 18/9/2019 với nội dung:

“1. Yêu cầu UBND các phường: Kiểm tra, rà soát diện tích đất thuộc khu đo tỉ lệ 1/5000; đất xen kẹp giữa khu dân cư và ranh giới đất rừng... báo cáo kết quả rà soát về phòng Tài nguyên và Môi trường trước ngày 30/9/2019.

2. Phòng T2 tham mưu, đề xuất báo cáo UBND thành phố trước ngày 10/10/2019”.

Ngày 24/10/2019, ông Nguyễn Hữu H1 có đơn phản ánh, kiến nghị đến Chủ tịch HĐND, UBND tỉnh Q, Chủ tịch UBND thành phố H về việc chưa được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND phường H không xét duyệt hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H đã trả lại hồ sơ.

Ngày 13/11/2019, UBND thành phố H có Thông báo số 709/TB-UBND về việc đơn của ông Nguyễn Hữu H1 không đủ điều kiện để thụ lý giải quyết với lý do không được ủy quyền viết đơn kiến nghị, khiếu nại. Trong khi UBND thành phố H không thụ lý đơn thì các cơ quan của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm, tạo điều kiện chuyển văn bản về UBND thành phố H xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Do trong quá trình làm giấy ủy quyền, ông T đã sơ suất không viết nội dung được ủy quyền viết đơn kiến nghị, khiếu nại cho ông Nguyễn Hữu H1.

Ngày 15/11/2019, ông T đã làm đơn gửi đến các cơ quan chức năng phản ánh, kiến nghị về việc UBND thành phố H chưa thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất của ông T tại tổ F khu F, phường H, thành phố H để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/12/2019, UBND thành phố H ban hành Văn bản số 9635/UBND về việc giải quyết đơn của ông T, trong đó giao Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố giải quyết, tham mưu văn bản để UBND thành phố trả lời công dân xong trước ngày 25/12/2019, kết quả giải quyết gửi về Ban Tiếp công dân thành phố để tổng hợp, theo dõi.

Ngày 31/01/2020, UBND thành phố H có Văn bản số 685/UBND về việc trả lời đơn kiến nghị của ông T. Nội dung văn bản trả lời đơn không theo nội dung kiến nghị của ông mà đề nghị nộp hồ sơ tại Trung tâm hành chính công thành phố để được thụ lý giải quyết theo quy định.

Ngày 06/02/2020, ông T tiếp tục nộp hồ sơ tại Trung tâm hành chính công thành phố H và được tiếp nhận tại phiếu số 2019300400930, ngày hẹn trả kết quả: 13/3/2020. Tại thời điểm nộp hồ sơ, cán bộ tiếp nhận không yêu cầu bổ sung thêm loại giấy tờ nào khác, hộ gia đình ông T vẫn nộp nguyên hồ sơ đã tiếp nhận lần đầu.

Ngày 09/3/2020, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H có Thông báo số 407/TB-VPĐKQSDĐ thông báo tình hình thụ lý hồ sơ, không hẹn ngày trả kết quả.

Ngày 19/5/2020, ông T đến Trung tâm hành chính công thành phố H thì được giải thích vẫn đang trong quá trình xem xét, giải quyết do liên quan đến sửa chữa hồ sơ, trích lục thửa đất và không có văn bản trả lời hoặc thông báo cho ông T biết.

Ngày 16/6/2020, UBND thành phố H có Văn bản số 5303/UBND về việc trả lời kiến nghị của 4 hộ gia đình, trong đó có nội dung “UBND thành phố H có Văn bản số 4133/UBND gửi Phòng K Công an tỉnh Q đề nghị giám định nội dung Giấy nhượng nhà lập ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L, đề nghị làm rõ việc viết và kê khai đo vẽ bổ sung...

Sau nhiều lần gửi đơn phản ánh, kiến nghị thì đến ngày 22/8/2020, ông T nhận được Thông báo của Chi cục Thuế thành phố H theo giá thu tiền sử dụng đất năm 2020. Gia đình ông T đã nộp đầy đủ tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ theo giá thu tiền sử dụng đất và hệ số năm 2019 theo thời điểm nộp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ.

Ngày 25/12/2020, gia đình ông gửi đơn đến UBND thành phố H về việc tính lại tiền sử dụng đất theo thời điểm Văn phòng ĐKQSD đất nhận đủ hồ sơ hợp lệ tại phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả ngày 01/10/2019 của Trung tâm hành chính công thành phố H.

Ngày 04/02/2021, UBND thành phố H có Văn bản số 923/UBND về việc trả lời kiến nghị không đồng ý với đơn kiến nghị của gia đình ông T.

Không đồng ý với nội dung văn bản trả lời nêu trên, ông T đã làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố H.

Ngày 27/4/2021, Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định số 3588/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của các ông Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1, Nguyễn Thế L; trú tại tổ F khu F phường H, thành phố H (lần đầu), tại Điều 1 Quyết định nêu:

“Không chấp nhận nội dung khiếu nại của các ông Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1, Nguyễn Thế L, trú tại tổ F khu F phường H, thành phố H về việc khiếu nại hành vi hành chính của UBND thành phố tại Văn bản số 923/UBND và số 924/UBND về việc trả lời đơn kiến nghị của công dân. Yêu cầu được nộp tiền sử dụng đất năm 2019 để đảm bảo quyền lợi cho các gia đình khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại tổ F, khu F, phường H, thành phố H.

Lý do: Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình đã được tiếp nhận và giải quyết đảm bảo trình tự và quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết hồ sơ kéo dài do các hộ tự ý sửa chữa giấy tờ, gây khó khăn trong quá trình xác minh nguồn gốc đất.

1. Giao Phòng T2 kiểm tra, rà soát hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ, tham mưu cho UBND thành phố cắt bỏ phần diện tích thuộc đất khu đo tỉ lệ 1/5000 (đủ điều kiện hình thành một thửa đất độc lập ra khỏi đất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ).

2. Giao Ban quản lý dự án đầu tư công trình khảo sát, lập quy hoạch trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, bổ sung vào quỹ đất đấu giá tăng thu ngân sách”.

Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại số 3588/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố H, ông T tiếp tục khiếu nại lần 2 đến Chủ tịch UBND tỉnh Q.

Quá trình giải quyết khiếu nại lần 2, Sở T3 tỉnh chỉ căn cứ vào thời điểm nộp hồ sơ lần 2 là ngày 06/02/2020 tại Trung tâm Hành chính công thành phố H và căn cứ lý do sửa chữa giấy tờ, gây khó khăn trong quá trình xác minh nguồn gốc đất mà không quan tâm đến thời điểm nộp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ lần 1 ngày 01/10/2019. Mặt khác, Sở T3, UBND thành phố H lại gộp 4 hộ, lấy lý do sửa chữa hồ sơ như nhau là không đúng thực tế.

Thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ lần 1 và lần 2 không thay đổi về thành phần hồ sơ, không sửa chữa giấy tờ để gây khó khăn như nhận định của UBND thành phố H. Lần 1, UBND phường H và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H căn cứ Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 của UBND thành phố H để trả hồ sơ là không đúng quy định pháp luật, vì văn bản này là một trong các văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật khi áp dụng cho rất nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ hợp pháp bị xâm hại nghiêm trọng. Các văn bản của UBND thành phố H ban hành trái pháp luật tương tự Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 đã được Sở Tư pháp kết luận tại Văn bản số 801/KL-KtrVB ngày 13/8/2021; UBND tỉnh chỉ đạo tại Văn bản số 6402/UBND-QLĐĐ ngày 14/9/2021 và UBND thành phố H đã bãi bỏ các văn bản ban hành sai tại Văn bản số 8799/UBND ngày 22/9/2021.

Về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của ông T từ ngày 10/5/2021 (ngày ban hành quyết định giao xác minh nội dung khiếu nại) đến ngày 11/01/2023 (ngày ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2) đã gây thiệt hại về kinh tế cho các hộ gia đình, trong đó có gia đình ông T. 03 hộ gia đình trong đó có gia đình ông T đã thực hiện nghĩa vụ tài chính với tổng số tiền là 3.540.615 đồng (nộp tiền lệ phí Trước bạ và tiền sử dụng đất từ năm 2020 theo giá thu tiền sử dụng đất của thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ năm 2019). Từ năm 2020 đến nay đã hơn 02 năm, số tiền đã nộp là rất lớn, gây khó khăn cho gia đình các ông.

Ngày 14/01/2023, ông T nhận được Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 11/01/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh Q về việc giải quyết khiếu nại của các ông Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1, Nguyễn Thế L. Sau khi nghiên cứu Quyết định giải quyết khiếu nại, ông T thấy rằng:

- Việc trả lại hồ sơ lần 1 ngày 01/10/2019 là do UBND thành phố H đang tiến hành rà soát đối với các vị trí thuộc khu đo tỉ lệ 1/5000 nên Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trả lại hồ sơ của 4 hộ dân. Việc Văn phòng đăng ký QSD đất thành phố H căn cứ nội dung Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 để trả lại hồ sơ (lần 1) cho 4 hộ dân là không có cơ sở, không phù hợp với quy định của pháp luật.

- Do hồ sơ về nguồn gốc đất của các hộ là Giấy nhượng nhà ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L đã bị sửa chữa điền thêm nội dung làm tăng diện tích sử dụng đất. Việc nộp hồ sơ đã bị sửa chữa, nên phải cần nhiều thời gian để xác minh lại nguồn gốc sử dụng đất (thời gian là 06 tháng kể từ ngày có thông báo thuế). Pháp luật hiện hành không quy định hồ sơ phức tạp thì thời gian thực hiện thủ tục hành chính được kéo dài hơn.

- Về thời điểm tính tiền sử dụng đất căn cứ khoản 41 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ như nhận định tại Quyết định của UBND tỉnh Q đã nêu: “41. Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế. Thời hạn Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; thời hạn cơ quan thuế thông báo nghĩa vụ tài chính cho người sử dụng đất không quá 05 ngày kể từ ngày nhận được thông tin địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến. Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai chuyển thông tin chậm hoặc cơ quan thuế chậm xác định nghĩa vụ tài chính thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất được xác định là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận hồ sơ hợp lệ.

Như vậy căn cứ quy định của pháp luật và nhận định nêu trên tại Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 11/01/2023 thì lỗi và trách nhiệm thuộc về UBND thành phố H và các cơ quan trực thuộc UBND thành phố H (hành vi hành chính về chậm trễ giải quyết các thủ tục hành chính, kéo dài thời gian dẫn đến nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đã bị thay đổi) đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Cho rằng quyền lợi bị xâm phạm nên ông Nguyễn Thế T khởi kiện yêu cầu:

  1. Hủy Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 11/01/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh Q về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của các ông Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1, Nguyễn Thế L (trú tại tổ F, khu F, phường H, thành phố H); Quyết định số 3588/QĐ-UBND ngày 27/4/2021 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của các ông Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1, Nguyễn Thế L (trú tại tổ F, khu F, phường H, thành phố H).
  2. Buộc UBND thành phố H thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tính nghĩa vụ tài chính theo thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ năm 2019 tại phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả số 1919300413297.
  3. Buộc UBND thành phố H bồi thường các thiệt hại về kinh tế do chậm giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu từ khi đã nhận đủ hồ sơ hợp lệ tại Phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả số 1919300413297 đến nay.

Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh Q có quan điểm trình bày:

Quá trình nộp hồ sơ, giải quyết lần 1:

- Ngày 01/10/2019, 04 hộ dân gồm các ông: Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1; Nguyễn Thế L trú tại tổ F, khu F, phường H (ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H1) nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần 1 tại Trung tâm hành chính công thành phố (Phiếu tiếp nhận và trả kết quả số 1919300413297, số 1919300413298, số A, số A).

- Ngày 14/10/2019, UBND phường H có Văn bản số 689/UBND gửi Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H, trong đó có nội dung: “Khi kiểm tra hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân có những phần diện tích đất theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997 thuộc vịnh H.”

- Ngày 14/10/2019, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H có các Thông báo số 4127/TB-VPĐKQSDĐ, số 4128/TB-VPĐKQSDĐ, số 4129/TB-VPĐKQSDĐ, số 4130/TB-VPĐKQSDĐ về việc trả lại hồ sơ cho các hộ dân với lý do: Phần diện tích đất của các hộ dân thuộc khu đo tỷ lệ 1/5000 (bản đồ địa chính đo năm 1997); Căn cứ Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 của UBND thành phố H chỉ đạo UBND các phường kiểm tra, rà soát diện tích đất thuộc khu đo tỷ lệ 1/5000; đất xen kẹp giữa khu dân cư với ranh giới đất rừng do Hạt Kiểm lâm, BQL rừng đặc dụng CQMT (đã giải thể) quản lý; các diện tích đất trong bản đồ địa chính ghi UBND các phường quản lý; đất xen kẹp giáp ranh các Khu đô thị mới đã và đang triển khai thực hiện. Quản lý chặt chẽ, không để lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép và không được xét duyệt hồ sơ, tham mưu hợp thức hóa đối với các quỹ đất nêu trên.

Quá trình nộp hồ sơ, giải quyết lần 2:

- Ngày 06/02/2020, 04 hộ dân gồm ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thế T, Nguyễn Sơn T1 (ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H1) tiếp tục nộp hồ sơ (lần 2) tại Trung tâm hành chính C, hẹn trả kết quả là ngày 13/3/2020 (Phiếu tiếp nhận và trả kết quả số 2019300400932, số 2019300400931, số B, số Β).

- Ngày 15/02/2020, Ủy ban nhân dân phường H họp kiểm tra đăng ký, xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất cho các hộ dân.

- Ngày 09/3/2020, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H có Văn bản số 406/VPĐKQSDĐ gửi UBND phường H về việc đề nghị kiểm tra khẳng định lại nguồn gốc và quá trình, ranh giới sử dụng đất của 04 hộ.

Đồng thời Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H có Văn bản số 407/TB-VPĐKQSDĐ ngày 09/3/2020 gửi các hộ ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thế T, Nguyễn Sơn T1; trú tại tổ F, khu F, phường H (ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H1) thông báo về tình hình thụ lý hồ sơ để công dân được biết và tránh đi lại nhiều lần.

- Ngày 28/4/2020, UBND phường H có Văn bản số 255/UBND gửi Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H về việc kiểm tra, khẳng định lại nguồn gốc và quá trình, ranh giới sử dụng đất. Kết quả hiện trạng đang sử dụng thửa đất số 103 tờ 43 diện tích 685,2m² không có ranh giới, có 02 nhà cấp 4 và nhà kho của gia đình (do ông T quản lý). Ủy ban nhân dân phường H đề nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố xác định, kiểm tra theo quy định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2017 mà 04 hộ đã đăng ký địa chính; UBND phường đã làm việc với gia đình ông Nguyễn Thế L. Tại buổi làm việc, ông L khẳng định nội dung trong Giấy nhượng nhà lập ngày 05/11/1992 không có viết và kẻ vẽ bổ sung, ông cam kết và chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về việc khẳng định của mình. Tuy nhiên, bằng trực quan xác định có dấu hiệu chỉnh sửa, bổ sung nội dung trong giấy nhượng nhà viết tay ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 với ông Nguyễn Thế L. Để làm rõ việc có chỉnh sửa hay không, UBND phường H đề nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố cho giám định lại giấy chuyển nhượng viết tay nêu trên.

- Ngày 14/5/2020 UBND thành phố H có Văn bản số 4133/UBND gửi phòng K - Công an tỉnh Q đề nghị giám định giấy nhượng ngày 05/11/1992 có sửa chữa, bổ sung nội dung hay không.

- Ngày 12/6/2020 phòng K - Công an tỉnh Q có Văn bản số 147/CV-KTHS về việc trả lời kết quả giám định với nội dung: “Nội dung trong Giấy nhượng nhà đề ngày 05/11/1992 cần giám định bị điền thêm ở những vị trí: số "1" hàng nghìn trong số "1120" dòng kẻ thứ 9 từ trên xuống; Các nét gạch đứt đoạn nối từ "A" đến "F", từ "F" đến "E"; C "ao" bên trong và chữ "ao" bên phải hình ABEF; Số "2" bên trong hình ABEF, số "4" bên trái hình ABEF; Chữ "Đất" dòng kẻ thứ 6 từ dưới lên; các chữ "ao Hình ABEF", "Đất và ao là CDEF" dòng kẻ thứ 5 từ dưới nên; Nét ">" dòng kẻ thứ 6 đến thứ 5 từ dưới lên”.

- Ngày 23/6/2020, UBND thành phố H có Văn bản số 5552/UBND gửi UBND phường H về việc xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của hộ dân với nội dung: “Do "Giấy nhượng nhà" giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L ghi ngày 05/11/1992 đã bị điền thêm nội dung theo Kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh Q nên giao Ủy ban nhân dân phường H căn cứ hồ sơ địa chính, dữ liệu quản lý đất đai hiện có xác minh lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các hộ gia đình ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1 trú tại tổ F khu F phường H làm cơ sở để Phòng T2, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố tham mưu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.”

- Ngày 29/7/2020, Ủy ban nhân dân phường H có kết quả xác minh lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất đối với diện tích xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 04 hộ dân.

- Ngày 04/8/2020, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H có Phiếu trình giải quyết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 04 hộ gia đình và được Lãnh đạo UBND thành phố H phê duyệt.

- Ngày 22/8/2020 và ngày 03/9/2020, các hộ dân nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố H đối với diện tích xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ theo đơn giá thu tiền sử dụng đất được phê duyệt tại Quyết định số 42/2019/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 (được áp dụng từ năm 2020 - 2024).

Sau đó, 04 hộ dân có đơn kiến nghị gửi Ủy ban nhân dân thành phố H với nội dung đề nghị được áp dụng đơn giá thu tiền sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ lần 1 (năm 2019);

- Ngày 04/02/2021, Ủy ban nhân dân thành phố H có Văn bản số 923/UBND và 924/UBND về việc trả lời kiến nghị của công dân với nội dung: Kiến nghị của 04 hộ dân là không có cơ sở để giải quyết.

Việc chỉ đạo giải quyết sau đối thoại:

Ngày 22/10/2021, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có Văn bản số 670/CV-VP đề nghị Sở Tư pháp có ý kiến về việc UBND thành phố H ban hành Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 và căn cứ văn bản này để trả hồ sơ (lần 1) của 04 hộ dân; Căn cứ quy định pháp luật có ý kiến để giải quyết nội dung khiếu nại của 04 hộ dân. Sau đó, Sở Tư pháp có Văn bản số 59/STP-VD&TDTHPL ngày 20/12/2021; trên cơ sở Ủy ban nhân dân tỉnh có Văn bản số 385/UBND-TD4 ngày 17/01/2022 giao sở T3 nghiên cứu nội dung Văn bản số 59/STP-VB&TDTHPL ngày 20/12/2021 của Sở Tư pháp kiểm tra, rà soát, xem xét lại hồ sơ, tài liệu vụ việc, làm việc với các đơn vị liên quan. Trên cơ sở đó kiến nghị đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh G khiếu nại (lần 2) của 04 hộ dân nêu trên đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Ngày 03/3/2022, Sở T3 có Văn bản số 1015/TNMT-TTr với nội dung:

- Việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất UBND thành phố H căn cứ vào nội dung Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 để trả hồ sơ (lần 1) cho 04 hộ dân là không có cơ sở, không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai. Tuy nhiên, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T2 đã đề xuất UBND thành phố cho phép tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp bổ sung quyền sử dụng đất đối với các trường hợp đang quản lý diện tích đất thuộc khu đo tỷ lệ 1/5000.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ ngày 06/02/2020 (lần 2), UBND phường H đã phát hiện Giấy chuyển nhượng năm 1992 có sửa chữa, chỉnh sửa hồ sơ, UBND thành phố H đã chỉ đạo UBND phường H xác minh lại nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất của 04 hộ để thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ. Quá trình giải quyết các công việc mất nhiều thời gian để thực hiện “Xác minh nguồn gốc đất; trưng cầu giám định hồ sơ của phòng K - Công an tỉnh Q.…” đến khi có thông báo nộp tiền sử dụng đất, thời gian hơn 06 tháng.

- Căn cứ khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất là thời điểm Nhà nước quyết định công nhận quyền sử dụng đất (Ngày 22/8/2020 và ngày 03/9/2020 các hộ dân nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố H). Do đó, nội dung khiếu nại của các ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thế T, Nguyễn Sơn T1 “Yêu cầu được nộp tiền sử dụng đất tại thời điểm nhận hồ sơ năm 2019” là không có cơ sở.

Căn cứ pháp luật để giải quyết nội dung khiếu nại:

(1) Thời điểm tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần 1 ngày 01/10/2019; tại thời điểm này, UBND thành phố H đang tiến hành rà soát đối với các vị trí đất thuộc khu đo tỉ lệ 1/5000 nên Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H đã có Văn bản trả lại hồ sơ của 04 hộ dân.

Việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất UBND thành phố H căn cứ vào nội dung Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 để trả lại hồ sơ (lần 1) cho 04 hộ dân là không có cơ sở, không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai. Tuy nhiên, UBND thành phố cho phép tiếp nhận hồ sơ cấp giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp bổ sung quyền sử dụng đất đối với các trường hợp đang quản lý diện tích đất thuộc khu đo tỷ lệ 1/5000.

Ngày 06/02/2020, các hộ nộp hồ sơ lần 2 tại các Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.

Như vậy, thời điểm tiếp nhận hồ sơ hợp lệ chính thức là tháng 02/2020 đến thời điểm công nhận quyền sử dụng đất là tháng 8/2020 (ngày 22/8/2020 và ngày 03/9/2020 các hộ dân nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố H).

(2) Hồ sơ về nguồn gốc đất của các hộ là “Giấy nhượng nhà” ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L đã bị sửa chữa điền thêm nội dung, làm tăng diện tích sử dụng đất (theo Kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh Q tại Văn bản số 147/CV- KTHS, ngày 12/6/2020). Việc nộp hồ sơ đã bị sửa chữa nên phải cần nhiều thời gian để xác minh lại nguồn gốc quá trình sử dụng đất (thời gian là hơn 6 tháng mới có thông báo nộp tiền của cơ quan thuế); Cụ thể: Sau khi các hộ nộp hồ sơ lần 2 ngày 06/02/2020 UBND phường H, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H đã xác minh nguồn gốc, thẩm định hồ sơ, sau đó ngày 22/8/2020 và ngày 03/9/2020 (sau 06 tháng) các hộ dân nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố H.

Mặt khác, nếu tính thời điểm các hộ nộp hồ sơ (lần 1) ngày 01/10/2019 nhưng tại thời điểm này hồ sơ đã bị sửa chữa thì cũng phải kiểm tra, xác minh tính chính xác, việc giám định tại cơ quan Công an tỉnh Q và xác minh nguồn gốc đất và sẽ mất thời gian là 06 tháng như trên (đến năm 2020 mới có thông báo của cơ quan thuế gửi đến các hộ). Do đó, các hộ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại thời điểm năm 2020.

Căn cứ khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

“3.Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”

Căn cứ khoản 41 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ quy định:

“41. Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế.

Thời hạn Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; thời hạn cơ quan thuế thông báo nghĩa vụ tài chính cho người sử dụng đất không quá 05 ngày kể từ ngày nhận được thông tin địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến.

Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai chuyển thông tin chậm hoặc cơ quan thuế chậm xác định nghĩa vụ tài chính thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất được xác định là thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai nhận đủ hồ sơ hợp lệ”.

Căn cứ quy định nêu trên, việc UBND thành phố H áp dụng giá đất năm 2020 để tính thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất cho các hộ là đúng quy định. Do vậy, nội dung khiếu nại của các ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thế T, Nguyễn Sơn T1 yêu cầu được nộp tiền sử dụng đất tại thời điểm năm 2019 là không có cơ sở xem xét giải quyết.

Trên cơ sở kết quả xác minh và các căn cứ quy định pháp luật nêu trên, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 11/01/2023 giải quyết khiếu nại (lần 2) với nội dung: Không chấp nhận khiếu nại của các ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thế T, Nguyễn Sơn T1 yêu cầu được nộp tiền sử dụng đất tại thời điểm năm 2019 là đảm bảo theo đúng quy định pháp luật, đúng thẩm quyền, đúng nội dung, đảm bảo quyền lợi của 04 công dân nêu trên.

Nhận thấy việc ông Nguyễn Thế T khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 11/01/2023 là không có căn cứ, đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thế T.

Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND thành phố H và UBND thành phố H có quan điểm:

- Về quá trình cấp giấy:

Ngày 01/10/2019, 04 hộ dân gồm các ông Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1; Nguyễn Thế L trú tại tổ F khu F phường H (ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H1) nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần 1 tại Trung tâm hành chính công thành phố.

Ngày 07/10/2019, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố bàn giao 04 hồ sơ cho UBND phường H để thực hiện công tác xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất để thực hiện việc cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Ngày 14/10/2019, UBND phường H có Văn bản số 689/UBND về việc trả lại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trong đó có nội dung: Sau khi xem xét hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông, bà xác định phần lớn diện tích xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc khu đo tỷ lệ 1/5000 (bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997), căn cứ Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 về việc tăng cường công tác quản lý đối với các diện tích đất khu đo tỷ lệ 1/5000 trên địa bàn Thành phố, Ủy ban nhân dân phường H không được xét duyệt và tham mưu hợp thức hóa phần diện tích đất trên (do trước đó, ngày 18/9/2019, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Văn bản số 7041/UBND về tăng cường công tác quản lý đối với các diện tích đất khu đo tỷ lệ 1/5000 trên địa bàn thành phố H nhằm mục đích nâng cao công tác quản lý, không để lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép).

Như vậy, tại thời điểm Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 của UBND thành phố “về việc tăng cường công tác quản lý đối với các diện tích đất khu đo tỷ lệ 1/5000 trên địa bàn thành phố” có hiệu lực, UBND thành phố chưa xem xét giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dung đất đối với các phần diện tích đất khu đo tỷ lệ 1/5000 trên toàn địa bàn thành phố. Từ căn cứ đó, ngày 14/10/2019 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố có Thông báo số 4127/TB-VPĐKQSDĐ, 4128/TB-VPĐKQSDĐ, 4129/TB-VPĐKQSDĐ và 4130/TB-VPĐKQSDĐ về việc trả lại hồ sơ cho hộ dân.

Ngày 06/02/2020, 04 hộ dân gồm ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thế T, Nguyễn Sơn T1 (ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H1) nộp hồ sơ lần 2 tại Trung tâm hành chính C, ngày trả kết quả theo Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả là ngày 13/3/2020.

Ngày 03/3/2020, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố nhận được kết quả xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của UBND phường H đối với 04 hồ sơ nêu trên. Tuy nhiên trong quá trình kiểm tra, đối chiếu nguồn gốc và quá trình sử dụng đất với các hồ sơ và tài liệu liên quan do các hộ dân nộp, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố nhận thấy:

Giấy nhượng nhà ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L có dấu hiệu được viết và kẻ vẽ bổ sung. Mặt khác, căn cứ Bản đồ địa chính đo vẽ năm 2017 thể hiện phần diện tích quản lý, sử dụng và đăng ký có sự thay đổi về diện tích so với diện tích đăng ký xin cấp GCN của các hộ. Cụ thể: Ông Nguyễn Thế L đăng ký đo vẽ bản đồ địa chính năm 2017 với diện tích 183,5m², nay xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 701,3m²; Ông Nguyễn Thế T đăng ký đo vẽ bản đồ địa chính năm 2017 với diện tích 685,2m² nay xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 80,4m²; Ông Nguyễn Sơn T1 không đăng ký đo vẽ bản đồ địa chính năm 2017, nay xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 164,7m²;

Nội dung thay đổi về ranh giới quản lý, sử dụng và diện tích đất có thể ảnh hưởng đến nghĩa vụ tài chính (thu tiền sử dụng đất về Ngân sách Nhà nước), cụ thể: Đối với diện tích xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thế L áp dụng cung đường hiện trạng là Đường N đoạn từ tiếp giáp ngã từ đường tàu cũ đến cổng phân xưởng cảng - Công ty K1: Mặt đường chính có đơn giá là: 9.900.000đ/m². Đối với diện tích xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thế T áp dụng cung đường hiện trạng là Khu đô thị B đường N (Bao gồm cả khu dân cư bám đường dự án) đoạn từ đường rẽ Hải đội (Giáp trường P) đến Mì con cua: Khu còn lại có đơn giá: 17.100.000đ/m². Diện tích quản lý sử dụng của 02 hộ dân thay đổi là trên 500,0m² (trong thời gian từ năm 2017 - tháng 02/2019).

Ngày 10/3/2020, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có Văn bản số 406/VPĐKQSDĐ về việc kiểm tra, khẳng định lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất gửi U, trong đó có nội dung: Đề nghị kiểm tra, làm rõ nguồn gốc quá trình sử dụng đất do có sự thay đổi về ranh giới so với bản đồ địa chính đo vẽ năm 2017 đồng thời xác minh làm rõ việc Giấy nhượng nhà ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L có dấu hiệu được viết và kẻ vẽ bổ sung. Đề nghị gửi kết quả về Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố trước ngày 20/3/2020.

Đồng thời, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có Văn bản số 407/TB-VPĐKQSDĐ gửi các hộ ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Thế T, Nguyễn Sơn T1 (ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H1) thông báo về tình hình thụ lý hồ sơ để công dân được biết và tránh đi lại nhiều lần.

Ngày 29/4/2020, Ủy ban nhân dân Thành phố có Văn bản số 3679/UBND về việc quản lý, sử dụng đất xen kẹp, đất khu đo trên địa bàn Thành phố, trong đó có nội dung chỉ đạo: Đối với khu đất các hộ dân đang quản lý, sử dụng: Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố chủ trì, phối hợp với UBND các phường thông báo, hướng dẫn các hộ gia đình, cá nhân hoàn thiện hồ sơ để được xem xét giao đất bổ sung theo quy định điều chỉnh, công nhận quyền sử dụng đất (tại các vị trí đủ điều kiện), trình UBND thành phố phê duyệt.

Cùng ngày 29/4/2020, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố nhận được Văn bản số 255/UBND ngày 28/4/2020 của UBND phường H về việc kiểm tra, khẳng định lại nguồn gốc và quá trình, ranh giới sử dụng đất; trong đó có nội dung:

1. Hiện trạng đang sử dụng thửa đất số 103 tờ 43 diện tích 685,2m² không có ranh giới, có 02 nhà cấp 4 và nhà kho của gia đình (do ông T quản lý). Ủy ban nhân dân phường H đề nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố xác định, kiểm tra theo quy định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2017 mà bốn hộ đã đăng ký địa chính.

2. UBND phường đã làm việc với gia đình ông Nguyễn Thế L. Tại buổi làm việc, ông L khẳng định nội dung trong Giấy nhượng nhà lập ngày 05/11/1992 không có viết và kẻ vẽ bổ sung, ông cam kết và chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về khẳng định của mình. Tuy nhiên, bằng trực quan xác định có dấu hiệu chỉnh sửa, bổ sung nội dung trong giấy nhượng nhà viết tay ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 với ông Nguyễn Thế L. Để làm rõ việc có chỉnh sửa hay không, UBND phường H đề nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Thành phố báo cáo UBND thành phố cho giám định lại giấy chuyển nhượng viết tay nêu trên.

Từ căn cứ đó, ngày 14/5/2020 UBND thành phố có Văn bản số 4133/UBND về việc đề nghị giám định nội dung Giấy nhượng nhà lập ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 với ông Nguyễn Thế L gửi Phòng K - Công an tỉnh Q, trong đó đề nghị làm rõ có việc viết và kẻ vẽ bổ sung hay không, nếu có thì đề nghị cho biết thời điểm viết và kẻ vẽ bổ sung.

Ngày 16/6/2020, UBND thành phố có Công văn số 5303/UBND về việc trả lời kiến nghị của 04 hộ dân phường H trong đó có thông báo tình hình thụ lý hồ sơ của công dân.

Ngày 15/6/2020, UBND thành phố nhận được Công văn số 147/CV-KTHS ghi ngày 12/6/2020 về việc trả lời kết quả giám định của Phòng K - Công an tỉnh Q liên quan đến hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1, trong đó có nội dung: “Nội dung trong Giấy nhượng nhà đề ngày 05/11/1992 cần giám định bị điền thêm ở những vị trí: Số "1" hàng nghìn trong số "1120" dòng kẻ thứ 9 từ trên xuống; Các nét gạch đứt đoạn nối từ "A" đến "F", từ "F" đến "E"; C "ao" bên trong và chữ "ao" bên phải hình ABEF; Số "2" bên trong hình ABEF, số "4" bên trái hình ABEF; Chữ "Đất" dòng kẻ thứ 6 từ dưới lên; các chữ "ao Hình ABEF", "Đất và ao là CDEF" dòng kẻ thứ 5 từ dưới nên; Nét ">" dòng kẻ thứ 6 đến thứ 5 từ dưới lên”.

Do vậy, ngày 23/6/2020 UBND thành phố ban hành Văn bản số 5552/UBND về việc xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của hộ dân, trong đó có nội dung:

Do “Giấy nhượng nhà” giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L ghi ngày 05/11/1992 đã bị điền thêm nội dung theo Kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh Q nên giao UBND phường H căn cứ hồ sơ địa chính, dữ liệu quản lý đất đai hiện có xác minh lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các hộ gia đình ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1 trú tại tổ F khu F phường H làm cơ sở để Phòng T2, Văn phòng đăng ký QSD đất Thành phố tham mưu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Kết quả gửi về Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố trước ngày 30/6/2020.

Tuy nhiên, do vướng mắc trong quá trình xác minh, UBND phường H đã có Văn bản số 383/UBND ngày 30/6/2020 về việc xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của hộ dân và xin gia hạn hồ sơ cấp Giấy chứng nhận của các hộ ông Nguyễn Thế L, Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L1, Nguyễn Sơn T1 trú tại tổ F khu F phường H đến ngày 15/7/2020.

Ngày 17/7/2020, UBND phường H có Công văn số 422/UBND về việc ngày 16/7/2020 Hội đồng đăng ký đất đai phường đã tiến hành họp xét duyệt nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của 04 hộ dân, tại buổi họp ông Nguyễn Thế L và ông Nguyễn Sơn T1 vắng mặt. Do ông Nguyễn Thế L là người mua đất của ông Trần Đăng D1 nên các thành phần cuộc họp thống nhất tạm hoãn cuộc họp. Đồng thời cùng ngày, UBND thành phố tiếp tục có Công văn số 6447/UBND về việc trả lời kiến nghị của 04 hộ dân phường H, trong đó có nội dung thông báo tình hình thụ lý hồ sơ cho công dân được biết.

Ngày 29/7/2020, UBND phường H có kết quả xác minh lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất đối với diện tích xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 04 hộ dân. Trên cơ sở chỉ đạo tại Văn bản số 3679/UBND ngày 29/4/2020 về việc quản lý, sử dụng đất xen kẹp, đất khu đo tỷ lệ 1/5000 trên địa bàn Thành phố và phiếu trình của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, ngày 04/8/2020 UBND thành phố đã phê duyệt chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Thế T.

Ngày 20/8/2020, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố đã có Phiếu chuyển thông tin địa chính số 9621 gửi Chi cục Thuế thành phố H để xác định nghĩa vụ tài chính đối với hộ ông Nguyễn Thế T.

Ngày 22/8/2020, Chi cục Thuế thành phố H đã ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất và Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất đối với hộ ông Nguyễn Thế T.

Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần 1 ngày 01/10/2019, UBND thành phố H đang tiến hành rà soát đối với các vị trí đất thuộc khu đo tỉ lệ 1/5000, do đó Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H đã có Văn bản trả lại hồ sơ của 04 hộ dân. Việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H căn cứ vào Văn bản số 7041/UBND ngày 18/9/2019 để trả lại hồ sơ (lần 1) cho 04 hộ dân là không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai. Tuy nhiên, sau đó UBND thành phố đã cho phép tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp bổ sung quyền sử dụng đất đối với các trường hợp đang quản lý diện tích đất thuộc khu đo tỷ lệ 1/5000; Trên cơ sở đó, ngày 06/02/2020 các hộ dân đã nộp hồ sơ lần 2 để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Như vậy, thời điểm tiếp nhận hồ sơ được xác định là tháng 02/2020 đến thời điểm thành phố H phê duyệt chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chuyển thông tin nghĩa vụ tài chính đến cơ quan Thuế để thông báo nộp tiền sử dụng đất là tháng 8/2020 (ngày 22/8/2020 và ngày 03/9/2020 các hộ dân nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố H).

Nguyên nhân chậm chuyển thông tin nghĩa vụ tài chính là do Hồ sơ về nguồn gốc đất của các hộ là “Giấy nhượng nhà ngày 05/11/1992 giữa ông Trần Đăng D1 và ông Nguyễn Thế L” đã bị sửa chữa điền thêm nội dung, làm tăng diện tích sử dụng đất. Việc nộp hồ sơ đã bị sửa chữa, nên phải cần nhiều thời gian để xác minh lại nguồn gốc quá trình sử dụng đất (thời gian là hơn 6 tháng mới có thông báo nộp tiền của cơ quan thuế). Cụ thể: Sau khi các hộ nộp hồ sơ lần 2 ngày 06/02/2020, UBND phường H và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H đã xác minh nguồn gốc, thẩm định hồ sơ; sau đó ngày 22/8/2020 và ngày 03/9/2020 (sau 6 tháng) hộ dân nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố H.

Mặt khác, nếu tính thời điểm các hộ nộp hồ sơ (lần 1) ngày 01/10/2019 nhưng tại thời điểm này hồ sơ đã bị sửa chữa thì cũng phải kiểm tra, xác minh tính chính xác, việc giám định tại cơ quan Công an tỉnh Q và xác minh nguồn gốc đất và sẽ mất thời gian là 6 tháng như thực tế đã trưng cầu và phải đến năm 2020 mới có thể ban hành thông báo của cơ quan thuế gửi đến hộ dân.

Như vậy, căn cứ khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013; khoản 41 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; việc UBND thành phố H áp dụng giá đất năm 2020 để thu tiền sử dụng đất đối với hộ ông Nguyễn Thế T là đúng quy định. Việc ông Nguyễn Thế T cho rằng UBND thành phố H và các cơ quan chuyên môn của UBND thành phố H chậm trễ giải quyết các thủ tục hành chính trong việc xét duyệt hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu được nộp tiền sử dụng đất tại thời điểm năm 2019 là không có căn cứ.

Do đó, Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định số 3588/QĐ-QĐ-UBND ngày 27/4/2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Chủ tịch UBND tỉnh Q ban hành Quyết định số 78/QĐ-QĐ-UBND ngày 11/01/2023 về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) đối với các ông Nguyễn Thế T là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.3]. Đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của ông T buộc UBND thành phố H phải bồi thường các thiệt hại về kinh tế do chậm giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu từ khi đã nhận đủ hồ sơ hợp lệ tại phiếu tiếp nhận hồ sơ trả kết quả số 19193004413297 đến nay, Hội đồng xét xử xét thấy: Như đã phân tích nêu trên, xét thấy UBND thành phố H và các cơ quan chuyên môn của UBND thành phố H trong quá trình tiếp nhận, thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thế T đã đảm bảo thực hiện đúng quy định trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định pháp luật. Việc ông T yêu cầu UBND thành phố H phải bồi thường các thiệt hại về kinh tế là không có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận.

[3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thế T kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Thế T, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận kháng cáo nên ông Nguyễn Thế T phải nộp án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Bác kháng cáo của ông Nguyễn Thế T, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 98/2023/HC-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Thế T phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005738 ngày 15/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
  3. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

* Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Bích Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 326/2024/HC-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 326/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NKK: Nguyễn Thế T và NBK: Chủ tịch UBND tỉnh Q vụ án "Khiếu kiện quyết định hành chính"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger