TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3295/2024/DS-ST
Ngày: 23-7-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3790/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4691/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q
Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có:
- Ông Hà Xuân D, sinh năm: 1989
- Bà Lê Phương A, sinh năm: 1987
- Ông Trần Minh H1, sinh năm: 1986
Theo Giấy ủy quyền số 032380.24 ngày 24/02/2024
Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng F Tòa nhà P - số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1980
Địa chỉ: Căn hộ A Tầng D chung cư P - số C L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông Hà Xuân D có mặt, bà Nguyễn Thị Thanh H2 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Hà Xuân D trình bày:
Ngày 08/02/2022, bà Nguyễn Thị Thanh H2 đã nộp đơn Đề nghị phát hành thẻ (gọi tắt là Hợp đồng thẻ tín dụng) tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (sau đây gọi là V), loại thẻ: V, hạn mức đề xuất: 195.000.000 đồng, mục đích sử dụng: Tiêu dùng cá nhân.
Căn cứ đơn Đề nghị phát hành thẻ, ngày 08/02/2022 V và bà Nguyễn Thị Thanh H2 ký kết với các nội dung:
- Loại Thẻ tín dụng: V;
- Số tài khoản: 000000000031899;
- Số thẻ: 513892xxxxxx9476;
- Hạn mức: 50.000.000 đồng;
- Mục đích giải ngân: Tiêu dùng cá nhân;
- Lãi suất và biểu phí sử dụng: quy định tại Bản chấp thuận điều kiện và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB đính kèm Đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế, quy định chi tiết có thể tìm thấy trên website chính thức của V theo địa chỉ: https://www.vib.com.vn hay tại bất kỳ trụ sở/chi nhánh VIB nào hoặc bằng cách gọi Dịch vụ khách hàng 24/7 của V.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H2 đã thực hiện các giao dịch bằng thẻ tín dụng VIB Online Plus kể từ ngày 08/02/2022 đến nay là 50.007.000 đồng. Tổng số tiền bà H2 đã thanh toán Hợp đồng thẻ tín dụng đến nay là: 1.679.407 đồng (trong đó gồm: tiền nợ lãi là: 734.742 đồng và nợ phí là: 944.665 đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Hợp đồng thẻ tín dụng từ ngày 03/4/2022 nên V đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của khách hàng và chuyển nợ quá hạn. Đại diện V đã nhiều lần liên hệ (bằng hình thức gọi điện, nhắn tin, gửi email thông báo dư nợ, gửi văn bản nhắc nợ đến nơi cư trú...) và tạo điều kiện cho bà H2 thanh toán nhưng bà H2 cố tình tránh né không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Tại Đơn khởi kiện, V yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh H2 thanh toán tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 22/12/2023 là 95.477.583 đồng. Trong đó: tiền nợ vốn gốc là 50.007.000 đồng, tiền nợ lãi là 17.289.830 đồng và nợ phí là 28.180.753 đồng
Tuy nhiên, do VIB cơ cấu lại lãi suất nên dư nợ theo Hợp đồng thẻ tín dụng của bà Nguyễn Thị Thanh H2 tính đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án (23/7/2024) là 93.105.333 đồng. Trong đó gồm: nợ gốc là 50.007.000 đồng, nợ lãi là 14.917.580 đồng và nợ phí là 28.180.753 đồng. Do đó, VIB yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thanh H2 trả ngay một lần toàn bộ số tiền nêu trên cho V khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H2 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặt dù trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng bà H2 không đến Tòa theo giấy triệu tập, không cung cấp lời khai và tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án. Khi mở phiên tòa xét xử, bà H2 cũng đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự, đơn xin vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong hợp đồng tín dụng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP Q khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh H2 yêu cầu thanh toán nợ vay theo Giấy đề nghị phát hành thẻ ngày 08/02/2022 do hai bên đã ký kết. Bà Nguyễn Thị Thanh H2 có nơi cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường L, thành phố T thì bà Nguyễn Thị Thanh H2 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Căn hộ A Tầng D chung cư P - số C L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đã bán nhà từ tháng 01/2022 đi đâu không rõ. Bà H2 không thông báo cho Công ty W biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
- - Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q có Văn bản số 032380.24 ngày 24/02/2024 uỷ quyền cho ông Hà Xuân D, bà Lê Phương A, ông Trần Minh H1 tham gia tố tụng, việc uỷ quyền này là hợp lệ nên chấp nhận.
- - Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H2 đã được Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng bà H2 vẫn không đến Tòa án theo giấy triệu tập. Thông tin về nơi cư trú của bà Nguyễn Thị Thanh H2 nêu tại Hợp đồng tín dụng là địa chỉ: Căn hộ A Tầng D chung cư P - số C L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường L, thành phố T thì bà H2 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nêu trên nhưng đã bán nhà từ tháng 01/2022, đi đâu không rõ. Đại diện nguyên đơn xác định sau khi ký hợp đồng tín dụng bà H2 không cung cấp cho VIB biết về nơi cư trú, làm việc nào khác nên nguyên đơn không thể cung cấp địa chỉ khác của bà H2 nên đề nghị Tòa án xác định địa chỉ nêu trên là nơi cư trú cuối cùng của bị
đơn. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì địa chỉ tại Căn hộ A Tầng D chung cư P - số C L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H2 theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong vụ án, nguyên đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh H2, yêu cầu cá nhân bà H2 thanh toán các khoản nợ do cá nhân bà H2 vay và xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà H2 trả nợ, nguyên đơn không xác định được chồng bà H2 là ai và không yêu cầu chồng bà H2 cùng trả nợ. Do đó không có cơ sở triệu tập chồng bà H2 tham gia tố tụng trong vụ án này.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện VIB có cho bà Nguyễn Thị Thanh H2 vay tiền theo Giấy đề nghị phát hành thẻ ngày 08/02/2022. Việc thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện, đảm bảo trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự, Luật các tổ chức tín dụng nên Giấy đề nghị phát hành thẻ ngày 08/02/2022 được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Thanh H2 và V là hợp pháp, có hiệu lực pháp luật.
Mặc dù V đã nhắc nhở, yêu cầu thanh toán dư nợ nhiều lần nhưng bà H2 không thực hiện nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn”.
Về tiền lãi: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, vì vậy nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ lãi là có cơ sở nên chấp nhận.
Do đó, VIB yêu cầu bà H2 phải trả toàn bộ số tiền nợ của Giấy đề nghị phát hành thẻ ngày 08/02/2022 là 93.105.333 đồng, gồm: nợ gốc là 50.007.000 đồng, nợ lãi là 14.917.580 đồng và nợ phí là 28.180.753 đồng là có cơ sở chấp nhận,
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 93.105.333 đồng x 5% = 4.655.267 đồng.
Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền là 93.105.333 đồng (Chín mươi ba triệu một trăm lẻ năm nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Trong đó: tiền nợ gốc là 50.007.000 đồng, tiền nợ lãi là 14.917.580 đồng và nợ phí là 28.180.753 đồng. Trả ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 24/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Thanh H2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Nguyễn Thị Thanh H2 phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 4.655.267 đồng (Bốn triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn hai trăm sáu mươi bảy đồng) tại C có thẩm quyền.
- - Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.386.940 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0025476 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ ĐứC, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 3295/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3295/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay không thế chấp
