|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 325/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/5/2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thu Thuỷ và Ông Lý Khắc Chung
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh -Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 172/2024/TLST.HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024, việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 228/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 248/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:
1.Nguyên đơn: Bà Thái Mỹ L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: số A, tổ D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Bà Thái Mỹ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Ông Bùi Quang L1, sinh năm 1987. Vắng mặt.
Địa chỉ: số A, tổ D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thái Mỹ L trình bày và có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Giữa bà Thái Mỹ L và ông Bùi Quang L1 do gia đình mai mối và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn trễ hạn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 202/2013, quyển số 02/2013 ngày 13/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và vợ chồng đã ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Thái Mỹ L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Bùi Quang L1.
Về con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Bùi Thái Linh Đ, sinh ngày 01/10/2017. Cháu Đ hiện đang sống chung với bà Thái Mỹ L. Khi ly hôn bà Thái Mỹ L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Bùi Thái Linh Đ, sinh ngày 01/10/2017, không yêu cầu ông Bùi Quang L1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Giữa bà Thái Mỹ L và ông Bùi Quang L1 tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*.Bị đơn ông Bùi Quang L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:
[2] Về tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Thái Mỹ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 22/4/2024, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Thái Mỹ L. Ông Bùi Quang L1 đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Bùi Quang L1 vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Thái Mỹ L và ông Bùi Quang L1.
[3] Về hôn nhân: Giữa bà Thái Mỹ L và ông Bùi Quang L1 là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Thái Mỹ L, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Bùi Quang L1 không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Thái Mỹ L. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Thái M L là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Thái Mỹ L được ly hôn với ông Bùi Quang L1.
[4] Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Bùi Thái Linh Đ, lời trình bày của bà Thái Mỹ L thì bà và ông Bùi Quang L1 có con chung chưa thành niên tên Bùi Thái Linh Đ, sinh ngày 01/10/2017, bà Thái Mỹ L đang nuôi dưỡng, chăm sóc.
Xét thấy, con chung được bà Thái Mỹ L giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập nên bà Thái Mỹ L yêu cầu được nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Bùi Thái Linh Đ, sinh ngày 01/10/2017 cho bà Thái Mỹ L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Bùi Quang L1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Thái Mỹ L và các thành viên trong gia đình của bà Thái Mỹ L không được cản trở ông Bùi Quang L1 thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Bà Thái Mỹ L không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thái Mỹ L trình bày giữa bà và ông Bùi Quang L1 về tài sản chung và nợ chung là tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Bùi Quang L1 để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[6] Về án phí: Bà Thái Mỹ L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Thái Mỹ L và ông Bùi Quang L1.
- Giấy chứng nhận kết hôn số: 202/2013, quyển số 02/2013 ngày 13/12/2013 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà T Mỹ L và ông Bùi Quang L1 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Bùi Thái Linh Đ, sinh ngày 01/10/2017.
- Giao con chung chưa thành niên tên Bùi Thái Linh Đ, sinh ngày 01/10/2017 cho bà Thái Mỹ L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Bùi Quang L1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Thái Mỹ L và các thành viên trong gia đình của bà Thái Mỹ L không được cản trở ông Bùi Quang L1 thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
- Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Bà Thái Mỹ L không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thái Mỹ L trình bày giữa bà và ông Bùi Quang L1 về tài sản chung và nợ chung là tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
- Về án phí: Bà Thái Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005519 ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Thái Mỹ L đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Thái Mỹ L và ông Bùi Quang L1 vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Võ Việt Nam |
Bản án số 325/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 325/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Thái Mỹ L khởi kiện ông Bùi Quan L
