|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 325/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27-11-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 292/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc D, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số B đường T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phùng Thanh C, sinh năm 1976; ĐKTT: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện tại: E 1301 422 54, H, G, Thụy Điển; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Ngọc D trình bày:
Năm 2019, chị và anh Phùng Thanh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn vào ngày 10/7/2019 tại Ủy ban nhân dân phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, sau đó xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống. Do nơi làm việc của hai bên ở xa nhau, vợ chồng không tin tưởng nhau về tình cảm nên thường xuyên xảy ra bất hoà, cãi nhau. Từ năm 2022, anh C quyết định ở lại Thuỵ Điển, không trở về Việt Nam và không liên lạc gì với chị D. Từ đó đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị D đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Chị D và anh C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phùng Thanh C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019, chị và Trần Ngọc D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn vào ngày 10/7/2019 tại Ủy ban nhân dân phường V, quận L, thành phố Hải Phòng.
Quá trình chung sống, do khoảng thời gian sống chung, chị D phải đi làm xa nhà nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nảy sinh cãi vã liên tục. Anh chị đã cố gắng cho nhau cơ hội để tìm tiếng nói chung và xây dựng một gia đình hạnh phúc nhưng có sự khác biệt quá lớn về lối sống và suy nghĩ khiến anh chị không thể duy trì cuộc hôn nhân này. Hiện anh C vẫn ở Thuỵ Điển để sinh sống và làm việc, còn chị D về Việt Nam. Nay anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị D.
Về con chung: Anh và chị D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Ngọc D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nên quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Nguyên đơn chị Trần Ngọc D cư trú tại Hải Phòng và nguyên đơn, bị đơn đều đồng ý lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, nơi cư trú của nguyên đơn là Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 10/7/2019 tại Ủy ban nhân dân phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống, khoảng cách địa lý. Hiện anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau và anh chị đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Ngọc D được ly hôn với anh Phùng Thanh C.
[4] Về con chung: Chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Ngọc D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Ngọc D, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc D được ly hôn anh Phùng Thanh C.
- Về con chung: Chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Trần Ngọc D và anh Phùng Thanh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Ngọc D phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000815 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Trần Ngọc D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Trần Ngọc D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Anh Phùng Thanh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |
Bản án số 325/2024/HNGĐ-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 325/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn D-C
