Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số:325/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/07/2024

V/v: Xin ly hôn giữa Quách Thị H và chị Bùi Ngọc H1

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Vinh và ông Nguyễn Đức Thành

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Trì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 72/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXX ngày 20/06/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 36/2024/QĐ- HPT ngày 15/07/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Quách Thị H, sinh năm 1990

HKTT: Tập thể Bệnh viện Nông nghiệp, xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Trú tại: Số 10 thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội

(Chị H có mặt tại phiên tòa)

* Bị đơn: Anh Bùi Ngọc H1, sinh năm 1981

HKTT và trú tại: Tập thể Bệnh viện Nông nghiệp, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội

(Anh H1 vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án nguyên đơn là chị Quách Thị H trình bày:

- Về tình cảm: Tôi và anh Bùi Ngọc H1 được tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 10/06/2015 tại UBND xã N, huyện T, TP .. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại: Tập thể Bệnh viện Nông nghiệp, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, chúng tôi sống hạnh phúc cho đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, anh H1 thường xuyên chửi bới tôi và không quan tâm đến việc chăm sóc vợ, con. Vợ chồng đã tìm cách để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng không có kết quả. Do vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng nên tôi cùng con đã về nhà bố mẹ đẻ từ đầu năm 2021. Đến tháng 1/2021 và tháng 6/2021, tôi đã 02 lần làm đơn xin ly hôn anh H1 đến Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì nhưng sau đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả.

Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng với anh H1 không còn, vợ chồng không có khả năng chung sống hạnh phúc, tôi có nguyện xin được ly hôn anh H1

- Về con chung: Tôi và anh H1 có 01 con chung là Bùi Đức P, sinh ngày 03/09/2016

Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H1 đóng góp phí tổn nuôi con.

Hiện tôi làm nhân viên y tế tại Bệnh viện Đ, tổng thu nhập hàng tháng khoảng 15 triệu đồng.

Tôi có đầy đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ cháu P. Mẹ đẻ tôi tạo mọi điều kiện về chỗ ăn ở cho tôi và cháu P tại số A thôn Y, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội.

- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Tôi và anh H1 không có

* Bị đơn là anh Bùi Ngọc H1, trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để Toà án giải quyết vụ án, tiếp cận và công khai chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, thông báo về phiên hoà giải về việc chị Quách Thị H xin ly hôn nhưng anh H1 vẫn không có mặt không có lý do

Tại phiên toà:

- Chị Quách Thị H vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện và không có ý kiến gì bổ sung.

- Anh Bùi Ngọc H1 vắng mặt không có lý do

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:

- Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật

- Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự:

+ Nguyên đơn chấp hành, đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự

+ Bị đơn không chấp hành đầy đủ, không có mặt, không đưa ra các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình

* Về nội dung vụ án: Chị H và anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống anh chị đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2017, nguyên nhân là do lối sống không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã nói chuyện với nhau để khắc phục mâu thuẫn nhưng không giải quyết được và đã sống ly thân từ năm 2019. Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Quách Thị H. Chị Quách Thị H được ly hôn anh Bùi Ngọc H1

- Về con chung: Giao cháu Bùi Đức P cho chị Quách Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng

- Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết do đó không xem xét

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Quách Thị H xin ly hôn anh Bùi Ngọc H1 có hộ khẩu thường trú và trú tại: Tập thể Bệnh viện Nông nghiệp, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. Toà án nhân dân huyện Thanh Trì thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự

- Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật, bị đơn là anh Bùi Ngọc H1 đã được Toà án triệu tập nhiều lần để giải quyết vụ án, để tham gia phiên hoà giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh H1 đều vắng mặt. Ngày 15/07/2024, Toà án đã mở phiên toà lần thứ nhất để xét xử vụ án nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà và ấn định xét xử vào ngày 24/07/2024. Tại phiên toà ngày 24/07/2024, anh H1 vẫn vắng mặt, xét thấy đây là lần thứ hai anh H1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh H1 là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị H và anh Bùi Ngọc H1 được tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn ngày 10/06/2015 tại UBND xã N, huyện T, TP .. Đây là một hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống anh chị sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi cọ nhau và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẽ với nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ đầu năm 2021 đến nay. Đến tháng 1/2021 và tháng 6/2021, chị H đã làm đơn xin ly hôn đối với anh H1 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, nhưng sau đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả.

Quá trình giải quyết vụ án, anh H1 không có bất cứ lời khai nào, không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mà có thái độ chống đối, không hợp tác với Cơ quan pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H1 đã được Toà án tạo điều kiện để tham gia phiên hoà giải nhưng đều vắng mặt không có lý do cho thấy anh H1 không có mong muốn đoàn tụ với chị H. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 là trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn được. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống chung giữa chị H và anh H1 không có hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh H1 là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận

* Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung là Bùi Đức P, sinh ngày 03/09/2016

Xét việc chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên là quyền và trách nhiệm của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung vì chị có công việc ổn định, có thu nhập và có chỗ ở để nuôi dạy con tốt. Bản thân cháu P cũng có nguyện vọng ở cùng chị H. Hội đồng xét xử nhận thấy nguyện vọng của chị H và cháu P là chính đáng và phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Do đó giao chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung thời gian kể từ tháng 7/2024 đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H1 đóng góp phí tổn nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh H1 cho đến khi chị H có yêu cầu. Anh H1 có quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

* Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị H không đề nghị Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình giải quyết vụ án cho đến khi Toà án công khai chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh H1 không có yêu cầu phản tố nên Toà án không xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

* Về án phí: Chị Quách Thị H phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Quách Thị H. Chị Quách Thị H được ly hôn Anh Bùi Ngọc H1.
  2. Về con chung: Giao chị Quách Thị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Đức P, sinh ngày 03/09/2016, thời gian kể từ tháng 7/2024 đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H1 đóng góp phí tổn nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh H1 cho đến khi chị H có yêu cầu. Anh H1 có quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
  3. Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật
  4. Về án phí: Chị Quách Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm đã nộp được trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006974 ngày 23/02/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.

Án xử công khai sơ thẩm, chị H có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Anh H1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội
  • - VKS, Chi cục THADS huyện Thanh Trì
  • - UBND xã Ngọc Hồi số 32 ngày 10/06/2015
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Tự Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 325/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 325/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Quách Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger