|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 325/2024/HSPT Ngày: 16/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hưng;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Hoa;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lê, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần - trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử trực tuyến phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 1568/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Duy H, sinh ngày 30/12/1984, tại tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: số E, đường E, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: kinh doanh tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn N (đã chết) và bà: Trương Thị Đ; có vợ là: Dương Thị M và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: không; tiền án: ngày 29/01/2021, bị Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt số tiền 220.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”.
Bị cáo đầu thú ngày 14/3/2023, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Trong vụ án này, bị cáo Trương Văn N1 cũng có kháng cáo, nhưng đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo, nên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.
Ngoài ra còn có 05 bị cáo khác và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 9/2014, Trương Văn N1 sử dụng chứng minh nhân dân của vợ N1 là Nguyễn Thị Thu T; chứng minh nhân dân của N1 và chứng minh nhân dân của Vũ Văn H1 (sinh năm: 1989, HKTT: Tư Đa, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, do N1 nhặt được) để thuê dịch vụ hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh, thành lập Công ty cổ phần Đ1 (MST: 0801095483, viết tắt là Công ty N2), tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh H, trong đó N1 đứng danh giám đốc còn H1 và T đứng danh cổ đông Công ty. Thời gian đầu, N1 thành lập Công ty trên với mục đích kinh doanh van, cút, ống nước tuy nhiên Công ty hoạt động không có doanh thu. Qua tìm hiểu, N1 biết đến hoạt động mua bán trái phép hóa đơn dễ dàng kiếm lời nên từ tháng 10/2014, N1 sử dụng Công ty N2 để hoạt động mua bán trái phép hóa đơn.
Thời gian từ tháng 11/2015 đến tháng 12/2021, N1 thành lập thêm 6 công ty nữa, sau đó bị cáo cũng sử dụng những công ty này để hoạt động mua bán trái phép hóa đơn GTGT, gồm:
- Công ty TNHH một thành viên T4 (MST: 0801148110, viết tắt là Công ty T4), do Vũ Ngọc T1 (sinh năm: 1990; HKTT: Xóm G, thôn N, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương) đứng danh Giám đốc.
- Công ty cổ phần Đ1 (MST: 0201772045, viết tắt là Công ty N3), do Trương Văn N1 đứng danh Giám đốc.
- Công ty cổ phần X (MST: 0201980535, viết tắt là Công ty X), do Trương Văn N1 thành lập và đứng danh Giám đốc.
- Công ty TNHH X (MST: 0801257818, viết tắt là Công ty X), do Trương Văn T2 (sinh năm: 1992; HKTT: thôn N, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương) đứng danh Giám đốc.
- Công ty TNHH T5 (MST: 0202063517, viết tắt là Công ty T5) do Trương Văn N1 đứng danh Giám đốc.
- Công ty TNHH T6 (MST: 0202137328, viết tắt là Công ty T6), do Bùi Văn M1 (sinh năm: 1956; HKTT: xóm F, thôn N, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương) đứng danh Giám đốc.
Quá trình điều tra, Trương Văn N1 khai: Nam quản lý, điều hành 07 Công ty hoạt động mua bán trái phép hóa đơn từ tháng 10/2014 đến tháng 5/2022 thì ngừng hoạt động. Căn cứ tài liệu do Cục thuế thành phố H cung cấp và kết quả điều tra, xác định: Tổng số hóa đơn N1 đã sử dụng kê khai báo cáo thuế từ quý 4/2014 đến khi ngừng hoạt động của Công ty N2 là: 205 hóa đơn (trong đó có 84 hóa đơn mua vào và 121 hóa đơn bán ra); Công ty T4 là: 198 hóa đơn (trong đó có 26 hóa đơn mua vào và 172 hóa đơn bán ra); Công ty N3 là: 757 hóa đơn; Công ty T5 là: 38 hóa đơn và Công ty T6 là: 186 hóa đơn. Ngoài ra, N1 còn làm trung gian bán hóa
đơn cho Công ty T7 và Công ty A với tổng số 43 hóa đơn. Tổng số hóa đơn mua bán trái phép Trương Văn N1 phải chịu trách nhiệm hình sự là 1.427 hóa đơn và tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn bán ra cho khách của 07 Công ty do Nam quản lý, điều hành mua bán trái phép hóa đơn (chưa tính thuế VAT) là: 392.598.324.161 đồng; hưởng lợi 1.087.011.342 đồng.
Công ty TNHH T8 (MST: 0202035090; viết tắt là Công ty T8), đăng ký địa chỉ trụ sở tại: Số E Tổ B Khu Đ, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng do Bùi Duy H làm Giám đốc. Quá trình hoạt động kinh doanh, khách đến mua hàng hóa của Công ty T8 có yêu cầu H ghi khống thêm lượng hàng hóa trên hóa đơn bán cho khách mua. Để cân đối kê khai thuế mua vào và bán ra, Bùi Duy H đã liên hệ với Trương Văn N1, mua hóa đơn trái phép của Công ty T5 và Công ty T6 với giá là 04% giá trị hàng hóa dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế VAT) sau đó xuất bán cho khách mua với giá 4,5% giá trị hàng hóa dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế VAT), hưởng lợi 0,5%. Căn cứ kết quả điều tra đến nay xác định: Từ tháng 10/2021 đến tháng 4/2022, Bùi Duy H đã mua 03 hóa đơn trái phép của Công ty T5 và 12 hóa đơn trái phép của Công ty T6 từ Trương Văn N1 để làm đầu vào khống, xuất bán hóa đơn trái phép cho khách với tổng hàng hóa dịch vụ ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế VAT) là 12.095.777.684 đồng, hưởng lợi số tiền: 60.478.888 đồng. Quá trình điều tra, Bùi Duy H khai không nhớ đã bán hóa đơn trái phép cho cá nhân, đơn vị nào do khách mua hóa đơn của H rất nhiều, hóa đơn bán ra cho khách có lẫn hàng hóa thật và lượng hàng hóa ghi khống. Vì vậy không đủ căn cứ xác minh làm rõ.
Ngoài ra, Bùi Duy H có mối quan hệ quen biết xã hội với Đỗ Thị Mỹ C nên khi C có nhu cầu, H đã giới thiệu để C mua hoá đơn GTGT trái phép của Trương Văn N1. Đồng thời, H làm trung gian bán hóa đơn trái phép của các Công ty: Trường V, Anh T3, Tuấn P, 259 của Trương Văn N1 cho Đỗ Thị Mỹ C để thu lời. Quá trình điều tra xác định: Bùi Duy H đã mua 22 hóa đơn của các Công ty trên từ Trương Văn N1 sau đó bán trái phép cho Đỗ Thị Mỹ C, hưởng lợi số tiền: 160.000.000 đồng. Như vậy, tổng số hóa đơn Bùi Duy H mua bán trái phép là: 37 hóa đơn, hưởng lợi số tiền là: 160.000.000 + 60.478.888 = 220.478.888 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tuyên bố bị cáo Bùi Duy H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 và khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Bùi Duy H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo H 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các
bị cáo khác trong vụ án, các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 22/11/2023, bị cáo Bùi Duy H kháng cáo xin giảm hình phạt và xin chuyển sang hình phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Duy H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và cung cấp biên lai nộp tiền án phí và tiền phạt bổ sung theo quyết định tại bản án sơ thẩm với số tiền là 20.200.000 đồng; xác nhận của UBND xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương về việc bị cáo đã có tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương như đóng góp quỹ covit19, hỗ trợ chương trình “Tết vì người nghèo”, ủng hộ xây dựng trường tiểu học tại đại phương. Đồng thời trình bày về hoàn cảnh phạm tội và thay đổi nội dung kháng cáo từ xin phạt tiền sang xin giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phân tích đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, kết luận: bị cáo Bùi Duy H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, đ khoản 2 và khoản 3 Điều 203 Bộ luật Hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Duy H chỉ xin giảm hình phạt và có thêm các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm, đã được cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Ngày 22/11/2023, bị cáo Bùi Duy H kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh là trong thời hạn luật định nên được xem xét theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định số 13/2024/HSPT-QĐ ngày 18/3/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn N1, do bị cáo tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét về nội dung này.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Duy H:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Duy H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, những lời khai nhận đó là phù hợp với lời khai của bị cáo, các bị cáo khác tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Duy H là Giám đốc Công ty TNHH T8, biết Trương Văn N1 đã thành lập, quản lý, điều hành 7 công ty để sử dụng các công ty này vào mục đích mua bán trái phép hóa đơn nhằm kiếm lời, nên từ tháng 10/2021 đến tháng 4/2022, Bùi Duy H đã mua, bán và làm trung gian giúp Trương Văn N1 bán trái phép hóa đơn GTGT cho Đỗ Thị Mỹ C và một số người khác để thu lời. Tổng số hóa đơn Bùi Duy H mua bán trái phép là: 37 hóa đơn, hưởng lợi số tiền là 220.478.888 đồng.
[2.2] Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Duy H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ của Nhà nước; xâm phạm đến hoạt động quản lý thu, nộp ngân sách Nhà nước; nhiều lần phạm tội, với số hóa đơn mà bị cáo mua bán đã ghi nội dung là trên 30 số và số tiền thu lợi trên 100 triệu là phạm vào tội nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Bùi Duy H 18 tháng tù là đã có xem xét và cân nhắc khi lượng hình. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn nhận tội, cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương; biên lai nộp tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thể hiện thái độ thực sự ăn năn hối cải; có ông ngoại là liệt sỹ; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lời bất chính, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2021/HSST ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã được bị cáo chấp hành xong toàn bộ từ tháng 11/2021 (BL488) và xét thấy trong vụ án này, Trương Văn N1 là người thành lập nhiều công ty nhằm mục đích bán hoá đơn cho người khác với số lượng hóa đơn và số tiền thu lợi là rất lớn, đã bị xử phạt 18 tháng tù; Bùi Duy H là Giám đốc Công ty TNHH T8 chỉ là người làm trung gian giúp N1 bán trái phép và mua một số hóa đơn với số lượng không đáng kể so với số lượng hóa đơn mà N1 đã mua bán trái phép để phục vụ việc kinh doanh của mình nhằm kiếm lời; giữa các bị cáo không có sự bàn bạc phân công nhiệm vụ, nên hành vi phạm tội của bị cáo H trong vụ án này là chỉ ở mức độ nhất định. Do đó, có cơ sở để xem xét đối với nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo là có cơ sở để chấp nhận như quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu tại phiên tòa là phù hợp. Đồng thời, xác nhận bị cáo Bùi Duy H đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí với số tiền là 20.200.000 đồng tại B lại số 0005219 ngày 12/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
-
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Duy H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, về phần hình phạt.
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Bùi Duy H 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Bùi Duy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Hưng |
Bản án số 325/2024/HSPT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về mua bán trái phép hóa đơn (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 325/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Duy H phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn
