|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 325/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 – 8 – 2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Dương Thị Thúy Duy;
- Ông Phan Phước Tân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 216/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 392/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 431/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Thành N, sinh năm 1973; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ G, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
Ông Lê Thành N vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Bé H vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Lê Thành N; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H tự tìm hiểu, quen biết. Sau đó cả 02 chung sống như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Cả hai đã không còn chung sống từ năm 2006 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông Lê Thành N yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H.
Về con chung: Có 02 con chung tên: Lê Thanh B, sinh ngày 17/10/2003 và Lê Thành Đ, sinh ngày 20/01/2006. Con chung hiện đang chung sống với ông N. Do con chung đã trưởng thành, có công việc ổn định tự nuôi sống bản thân nên ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà Nguyễn Thị Bé H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về vấn đề con chung vào ngày 01/7/2024 nhưng bà Bé H vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà Bé H, bà Bé H cũng không cung cấp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Ngày 01/7/2024, ông N có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận công việc làm ăn.
- Về tài liệu, chứng cứ:
Tài liệu, chứng cứ do ông N giao nộp: Bản chính 02 Tờ tường trình ngày 24/4/2024; bản sao Giấy khai sinh mang tên Lê Thành B1, sinh ngày 17/10/2003; bản sao Giấy khai sinh mang tên Lê Thành Đ, sinh ngày 20/01/2006; bản photo Căn cước công dân mang tên Lê Thành N.
Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã N ngày 25/7/2024; Công văn số 05/UBNG-HT ngày 02/7/2024 của UBND xã K, huyện C; biên bản xác minh tại Ban ấp B, xã N, huyện A ngày 04/7/2024; biên bản lấy lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn T ngày 04/7/2024.
Tại phiên tòa, do ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H cùng vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Theo Công văn số 05/UBND-HT ngày 02/7/2024, UBND xã K, huyện C cho biết: Sau khi kiểm tra dữ liệu hộ tịch, sổ bộ H2, không tìm thấy thông tin kết hôn của ông Lê Thành N, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Bé H1, sinh năm 1977.
Theo biên bản xác minh ngày 25/7/2024, đại diện UBND xã N, huyện A cho biết: Qua tra cứu dữ liệu hộ tịch tại UBND xã N, không tìm thấy thông tin đăng ký kết hôn của ông Lê Thành N, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1977.
Theo biên bản xác minh ngày 04/7/2024, đại diện Ban ấp Búng lớn, xã N, huyện A cho biết: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1977 trước đây sinh sống tại địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang. Bà Bé H có cha tên Nguyễn Văn T1 và mẹ tên Nguyễn Thị Ơ. Bà Bé H hiện không còn sinh sống tại địa chỉ nêu trên, không rõ địa chỉ mới.
Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 04/7/2024, ông Nguyễn Văn T cho biết: Ông T là cha ruột của bà Nguyễn Thị Bé H. Bà Bé H trước đây chung sống như vợ chồng với ông Lê Thành N, sinh năm 1973, chung sống không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, bà Bé H và ông N có với nhau 02 con chung tên Đ và B1 (không rõ họ tên cụ thể), cả 02 con chung của bà B2 Hai ít khi về thăm gia đình. Hiện nay bà Bé H không còn chung sống với ông N. Bà Bé H đã lập gia đình khác. Do sức khỏe yếu nên ông T yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị không công nhận ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H là vợ chồng theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; về con chung, tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không đề cập giải quyết; về án phí; ông N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định, bà Bé H không phải chịu án phí.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Bé H đều vắng mặt không lý do; đồng thời, bà Bé H đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, bà Bé H đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố
tụng của mình. Nguyên đơn ông Lê Thành N có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem là không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Bé H đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H là tự nguyện, cả hai chung sống nhưng không đăng ký kết hôn nên không được xem là hôn nhân hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành N, tuyên bố không công nhận ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H là vợ chồng theo quy định tại Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Ông Lê Thành N không yêu cầu Tòa án giải quyết do các con chung đã trưởng thành, có công việc ổn định tự nuôi sống bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông N khai không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này bà Bé H có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Ông Lê Thành N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; bà Nguyễn Thị Bé H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Ông N và bà Bé H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; các điều 53, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành N.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H là vợ chồng.
- Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Ông Lê Thành N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà ông N đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009515 ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Thị Bé H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt ông Lê Thành N và bà Nguyễn Thị Bé H. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, ông N và bà Bé H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuân |
Bản án số 325/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 325/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Thành Nam và bà Nguyễn Thị Bé Hai tự tìm hiểu, quen biết. Sau đó cả 02 chung sống như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Cả hai đã không còn chung sống từ năm 2006 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông Lê Thành Nam yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Thành Nam và bà Nguyễn Thị Bé Hai. Về con chung: Có 02 con chung tên: Lê Thanh Bình, sinh ngày 17/10/2003 và Lê Thành Đẳng, sinh ngày 20/01/2006. Con chung hiện đang chung sống với ông Nam. Do con chung đã trưởng thành, có công việc ổn định tự nuôi sống bản thân nên ông Nam không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
