|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 325/2024/DS-PT
Ngày: 20-6-2024
“V/v tranh chấp HĐCN quyền sử dụng đất;
tài sản gắn liền với đất; HĐ thuê QSD đất;
HĐ cầm cố QSD đất; HĐ tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Minh Tùng; |
| Các Thẩm phán: | Bà Kiều Kim Xuân; |
| Ông Lê Khắc Thịnh. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29/5 và ngày 20/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố, hợp đồng tín dụng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 235/2023/DS-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 207/2024/QĐ-PT ngày 18/3/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Tổ B, Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Thu H ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1963, theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2020.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Thu H có luật sư Đặng Hồng Đ – Luật sư Văn phòng Luật sư Đặng Hồng Đ thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1973;
Chị Phạm Thị L, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Chị L ủy quyền cho anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1973, theo văn bản ủy quyền ngày 04/01/2023.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1950;
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1975;
Chị Nguyễn Thị N bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có bà Nguyễn Thị P là mẹ đại diện theo pháp luật cho chị N.
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: Tổ A, Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bà P, chị N ủy quyền cho anh G theo văn bản ủy quyền ngày 05/01/2023.
Anh H1 ủy quyền cho anh Nguyễn Văn G theo văn bản ủy quyền ngày 04/01/2023.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông G, bà L, bà P, bà N, anh H1 là ông Lê Ngọc T - Luật sư Văn phòng Lê Ngọc T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
- Anh Nguyễn Phước Đ1, sinh năm 1973;
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Nguyễn Vạn C, sinh năm 1981;
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Anh C ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963. Theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2020
- Anh Thái Minh P1, sinh năm: 1975;
- Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm: 1976;
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963;
Địa chỉ: tổ A, ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ngân hàng N1;
Địa chỉ chi nhánh: Số A, đường N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện: Ông Khương Văn B1, sinh năm: 1973; Địa chỉ: số A, đường N, Tổ C, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Hợp Tác xã D
Địa chỉ: Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thanh H2, sinh năm: 1973; Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: Tổ A, Ấp C, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị B2, sinh năm: 1964;
- Nguyễn Thị Bích H3, sinh năm: 1988;
- Nguyễn Thị Trường H4, sinh năm:1992;
- Nguyễn Quốc H5, sinh năm: 1996;
- Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Tổ B, Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bà B2, chị H3, chị H4, anh H5, chị L1 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963. Theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2020.
- Anh Nguyễn Văn G1, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp B, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Nguyễn Thị Kim L3, sinh năm 1967
Địa chỉ: Ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Hội Liên hiệp phụ nữ xã G, huyện C
Đại diện chị Võ Thị Hồng T3 – Chủ tịch.
- Bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1971
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Lê Thị T4, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1972
Địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
(Ông Q, ông G, anh Đ1, anh P1, chị T1, luật sư Đ, luật sư T có mặt; những người còn lại vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị L là bị đơn; bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1, anh Thái Minh P1 là người liên quan trong vụ án.
- Viện kiểm sát có kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 336/QĐ-VKS-DS ngày 03/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại tòa án và tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H là ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Nguồn gốc đất các thửa 425, 426, 427 cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là của anh G, chị L và hộ bà P đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó thửa 425 và 426 do bà P đứng tên, thửa 427 do vợ chồng anh G, chị L đứng tên trong giấy chứng nhận.
Vào năm 2016 chị H là con ông Q có thỏa thuận nhận chuyển nhượng 03 thửa đất nói trên thông qua 02 hợp đồng chuyển nhượng. Cụ thể: Hợp đồng thứ nhất giữa chị H với vợ chồng anh G, chị L diện tích thửa 427 giá thực tế 680.753.000 đồng (75.000.000 đồng/m²), giá ghi trong hợp đồng 400.000.000 đồng. Hợp đồng thứ hai thửa 426 với bà P giá thực tế 402.980.000 đồng (75.000.000 đồng/m²), ghi trong hợp đồng 300.000.000 đồng; thửa 425 và tài sản trên đất thửa 425 gồm tài sản, kiến trúc, cây cối giá 191.507.000 đồng (160.000.000 đồng/m²). Tổng cộng chị H đã thanh toán tiền cho vợ chồng anh G, chị L là 1.275.142.000 đồng. Chị H đã giao đủ tiền, nhưng không có làm biên nhận.
Việc giao kết hợp đồng được thực hiện tại Phòng C1 có đầy đủ thành viên hộ bà P, ông G ký tên nên Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị H ngày 18/01/2016.
Sau khi chị H được đứng tên trên giấy chứng nhận thì hai bên không làm thủ tục giao đất mà phía vợ chồng anh G, chị Lan L ký hợp đồng thuê lại toàn bộ 03 thửa đất trên với chị H với giá 52.000.000 đồng/năm, chị L là người viết tờ thuê đất ngày 19/01/2016. Đồng thời, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chị H thế chấp cho Ngân hàng N1 chi nhánh thành phố C để vay 1.400.000.000 đồng.
Đối với số tiền chuyển nhượng chị H đã trả cho anh G 1.275.142.000 đồng ông Q xác định trong đó là ông Q vay giùm anh G, chị L từ ông Ú 300.000.000 đồng, bà T2 350.000.000 đồng để anh G, chị L trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ3 là 700.000.000 đồng, có làm biên nhận vay tiền khi nhận tiền thì anh G là người trực tiếp nhận, nhưng người ký tên biên nhận là ông Q. Việc này đã có ông Ú xác nhận. Ông Q là người đưa tiền cho anh G, chị L nộp vào ngân hàng để lấy giấy tờ đất về, phần còn lại chị H đã đưa cho ông Q 400.000.000 đồng để trả cho bà L2, thuế sang tên, và tiền lãi cho những khoản vay khác. Thỏa thuận, sau khi sang tên đất xong thì chị H đã vay của Ngân hàng N1 để trả cho ông Ú, bà T2 (nhưng hiện nay chưa trả) và những chủ nợ khác mà ông G, bà L nợ: Trả tiền cho tổ phụ nữ xã G, trả cho bà Nguyễn Thị Kim L3.
Chị H khởi kiện yêu cầu:
- Yêu cầu chậm dứt hợp đồng thuê đất ngày 19/01/2016 giữa chị Nguyễn Thị Thu H với anh Nguyễn Văn G và chị Phạm Thị L.
- Yêu cầu bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn G1, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1, anh Thái Minh P1 và chị Nguyễn Thị Ngọc B trả lại phần đất cùng các công trình kiến trúc, cây trồng có trên đất thuộc thửa 426, 427 và 01 phần thửa 425 tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Phần đất trong phạm vi các mốc: M18 – M4 – M6 – M7 – M8 – M14 – M13 – M11 – M15 – M12 – M1 – M17 – M18.
- Đối với 01 phần đất có diện tích là 936,9m² cùng các công trình kiến trúc và cây trồng có trên phần đất thuộc thửa 425, tờ bản đồ số 7 thì chị H không tranh chấp, đồng ý cho hộ bà P tạm thời được quyền sử dụng trong phạm vi các mốc từ: Mốc M2-M3-M4-M18-M17-M2, khi nào có yêu cầu thì chị H sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
- Không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Chị H không đồng ý yêu cầu tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng giữa chị với ông G, bà P như yêu cầu của bị đơn và người liên quan. Về tiền thuê đất mà chị H ký với vợ chồng anh G, chị L chị không yêu cầu trả trong vụ án này. Trường hợp, Tòa xử chấp nhận yêu cầu của phía bị đơn và người liên quan tức là hủy 03 hợp đồng chuyển nhượng mà chị H đã giao kết với anh G, chị L, bà P thì chị H không có yêu cầu bà P, anh G, chị L trả tiền chuyển nhượng 1.275.142.000 đồng trong vụ án này.
Đối với việc vay vốn Ngân hàng N1 thì chị H xác định có vay, hiện nay chị H đã tất toán xong khoản nợ này cho Ngân hàng và đã nhận lại toàn bộ tài sản thế chấp.
Về diện tích đất trước khi chuyển nhượng anh G cho hợp tác xã D thuê chị H vẫn tiếp tục cho thuê lại nếu đất thuộc về chị.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 425, 426, 427 hiện đang do chị H giữ, không cầm cố hay thế chấp cho ai.
Ông Q trình bày với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Về lời trình bày của ông P1 về việc ông Q làm chứng việc cố đất giữa ông G và ông P1: Ông Q thừa nhận có chứng kiến và ký tên người làm chứng trên tờ cố đất, tuy nhiên khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông G nói sẽ lấy tiền về trả cho ông P1 nên ông Q không có nói với ông P1. Còn sau đó ông G có trả cho ông P1 không thì ông không biết.
Theo lời khai tại Tòa án và tại phiên toà anh Nguyễn Văn G là bị đơn đồng thời là đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn H1 trình bày:
Anh G vay nợ của ông Q (cha chị H) 200.000.000đồng có đóng lãi chứ chưa hoàn vốn. Còn về số đất thửa 427 do anh đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 02 thửa 425, 426 do bà P đứng tên, đầu tiên thế chấp cho Ngân hàng N1 - chi nhánh huyện C (phòng G2) vay 500.000.000đồng. Do cần vốn sản xuất nên anh G, chị L, bà P trả tiền ở Ngân hàng N1 để vay ở Ngân hàng TMCP P3 nay là Ngân hàng TMCP Đ3 700.000.000 đồng. Sau khi thế chấp 03 thửa đất vay ở Ngân hàng TMCP Đ3 vay 700.000.000đồng thì ông Q có đến đặt vấn đề sẽ giúp vay ở Ngân hàng N1 chi nhánh thành phố C 1.000.000.000 đồng nên đề nghị anh G hoàn tiền ngân hàng đầu tư để giao giấy cho ông Q làm thủ tục vay ở Ngân hàng N1 chi nhánh thành phố C.
Tuy nhiên để vay được thì ông Q đề nghị cả hộ gia đình bà P, anh G phải làm giấy ủy quyền cho ông Q làm thủ tục vay và thủ tục ủy quyền phải ký tại phòng công chứng. Chính vì lẽ đó mà từng người trong hộ bà P, anh G có đến phòng công chứng ký tên nghĩ là ủy quyền cho ông Q vay tiền nhưng đến ký tên công chứng viên không thông qua nội dung mà bảo ký tên nên tất cả mọi người trong hộ khẩu đều ký tên. Tuy nhiên, những người trong hộ có chị Nguyễn Thị N mất hành vi dân sự nhưng công chứng viên vẫn bắt lăn tay mà không có người giám hộ. Thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng thì chị N chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự. Về phần bà P thì bà P là người không biết chữ và khi ký cũng như điểm chỉ từng người đều đi không trùng giờ nhưng cùng 01 ngày, khi ký giao dịch không gặp mặt chị H. Lấy cơ sở đó mà ông Q làm thủ tục sang tên 03 thửa đất cho H đứng tên, khi có giấy thì chị H lấy thế chấp vay tiền và gia đình chỉ hay biết việc sang tên cho H đứng tên vào ngày 22/01/2016.
Sau đó, ông Q tiếp tục đề nghị anh G ký tên thuê lại 03 thửa đất với chị T5 Huyền giao ông Q giữ để ông Q lấy đó đối chiếu với các chủ nợ của anh G, chị L chính vì thế mà giấy thuê đất ngày 19/01/2016 chị H không ký tên. Phần thời điểm này các chủ nợ đưa việc thiếu nợ của vợ chồng anh G, chị L ra Công an huyện C giải quyết, sợ bị xử lý hình sự như lời ông Q đe dọa vào ngày ký hợp đồng thuê (19/01/2016) nên anh G, chị L theo lời ông Q đi lánh mặt một thời gian.
Ông Q trình bày là chị L, ông G có vay tiền của tổ phụ nữ, của bà L3, ông Ú, bà T2, bà L2 thì không có đúng sự thật, anh G, chị L không biết những người này là ai nên không có việc vay tiền cũng như ông Q đứng ra trả tiền thay như ông Q trình bày.
Đối với tiền trả cho Ngân hàng P3 thì anh G có nợ Ngân hàng P3 số tiền 700.000.000 đồng nên anh G có vay của bà Nguyễn Thị Đ2 là 215.000.000 đồng và bà Lê Thị T4 500.000.000 đồng để trả cho Ngân hàng vào ngày 06/01/2016 số tiền là 712.852.500 đồng chứ không phải là do ông Q trả nợ cho anh như ông Q trình bày.
Do không có việc chuyển nhượng đất mà bị lừa dối như trình bày ở trên nên không đồng ý giao đất mà có các yêu cầu sau:
- Anh G, chị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng anh G, chị L với chị H vào ngày 12/01/2016, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chị H sang cho vợ chồng anh đứng tên.
- Bà P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà với chị H ngày 12/01/2016, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chị H sang cho bà đứng tên.
- Yêu cầu hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2016 giữa ông G, chị L với chị H.
Về số tiền ghi trong hợp đồng ngày 12/01/2016 có công chứng cũng như trình bày của phía nguyên đơn thì bà P, anh G, chị L không đồng ý trả vì không có chuyển nhượng đất và không nhận tiền. Tuy nhiên nếu bên nguyên đơn chị H chứng minh có việc nhận tiền mua bán thì chị L, anh G, bà P đồng ý trả khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu.
Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng bị tuyên vô hiệu giữa chị H với anh G, bà P đất trở về anh G, bà P đứng tên thì anh G và chị L đồng ý thực hiện tiếp hợp đồng chuyển nhượng với anh Đ1, chị T1 phần đất có diện tích 3.200m² thuộc một phần thửa 427, tờ bản đồ số 7, đối với số tiền 50.000.000 đồng vợ chồng anh Đ1, chị T1 còn nợ thì anh G, chị L không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Đối với hợp đồng cố đất giữa anh G, chị L với anh Đ1, chị T1 thì anh G thống nhất hủy hợp đồng theo yêu cầu của anh Đ1, chị T1 và đồng ý trả số vàng cố đất 40 chỉ vàng 24K
Đối với diện tích đất Hợp tác xã D đang thuê làm đường thủy lợi thì anh G, chị L đồng ý tiếp tục cho Hợp tác xã D thuê.
Đối với công trình kiến trúc, cây trồng có trên đất theo các biên bản xem xét thẩm định tại chỗ anh G, bà P có ý kiến như sau: Do không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên anh G, bà P không yêu cầu xem xét, giải quyết. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộ hộ anh G, hộ bà P giao quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản, cây trồng trên đất thì giao, không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Ngoài ra, không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Theo lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phước Đ1 và chị Nguyễn Thị T1 trình bày:
Vợ chồng anh, chị có nhận cố của anh G, chị L thửa 427 diện tích 07 công vào năm 2013 đến năm 2015 thì anh G, chị L chuyển nhượng cho vợ chồng anh 3.200m² đã giao đất cho anh, chị canh tác và anh, chị đã trả tiền chuyển nhượng 100.000.000đồng còn lại 50.000.000đồng khi nào làm giấy đỏ xong sẽ thanh toán, về phần 04 công còn lại thì cố với giá 40 chỉ vàng 24 kr đã giao vàng cố xong nhưng thời điểm đó cho anh G, chị L thuê lại giá 2.000kg lúa/năm, anh G chỉ trả được 01 năm thì ngưng. Việc chuyển nhượng có làm hợp đồng, nhưng không có công chứng hay chứng thực.
Nay chị T1, anh Đ1 yêu cầu:
- Anh G, chị L, anh H1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận diện tích nhận chuyển nhượng 3.200m² thuộc 01 phần thửa 427, tờ bản đồ số 7 đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho vợ chồng chị theo quy định, anh chị đồng ý trả tiếp cho anh G, chị L 50.000.000 đồng. Phần đất nằm trong phạm vi các mốc: M10 – M16 – M9 – M8' – M11' – M10.
- Yêu cầu chấm dứt (hủy) hợp đồng cố đất giữa anh Đ1, chị T1 với anh G, chị L, anh H1 tại thửa 427, tờ bản đồ số 7 và yêu cầu anh G, chị L liên đới trả 40 chỉ vàng 24 kr loại vàng nhẫn trang sức.
Đối với phần cho thuê với giá 2.000kg lúa/năm thì anh Đ1, chị T1 không yêu cầu anh G, chị L trả trong vụ án này, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Trường hợp Tòa án xử không công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất diện tích 3.200m² giữa vợ chồng anh, chị với vợ chồng anh G, chị L thì vợ chồng anh, chị cũng không yêu cầu vợ chồng anh G, chị L hoàn trả tiền chuyển nhượng (100.000.000 đồng) hay bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu dù đã được Hội đồng xét xử giải thích quyền lợi được yêu cầu. Vấn đề tiền chuyển nhượng anh, chị sẽ giải quyết với vợ chồng anh G, chị L sau bằng vụ kiện khác.
Đối với cây trồng có trên đất trong phạm vi diện tích 3.200m², anh Đ1, chị T1 không có ý kiến hay yêu cầu gì. Nếu Tòa án buộc giao đất cho nguyên đơn thì đối với cây trồng anh Đ1, chị T1 cũng không yêu cầu trả giá trị.
Theo lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Minh P1 trình bày:
Năm 2014, anh P1 có nhận cố đất của anh G, bà P 10 công với giá 100 chỉ vàng 24 kr (gồm thửa 247 và 01 phần thửa 426). Tuy nhiên, khi cố đất như vậy anh không canh tác mà cho anh G thuê lại với giá 30.000.000đồng/năm. Đến năm 2016 anh G, chị L bỏ địa phượng đi nơi khác anh lấy lại 04 công canh tác phần còn lại hộ bà P sử dụng. Cho hộ bà P canh tác là vì 06 công trong 10 công là đất của bà P đứng tên nên giao trả lại cho bà P sử dụng chứ không thông qua giao dịch gì khác với bà P như vậy vàng cố 100 chỉ vàng là cho 04 công.
Việc cố, thuê đất anh P1 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này đợi khi nào giải quyết xong giữa G, Lan P2 với chị H anh sẻ thỏa thuận, thỏa thuận không được sẽ kiện sau bằng vụ kiện khác.
Anh P1 trình bày bổ sung: Ông Q là người làm chứng việc anh G và anh P1 ký hợp đồng cố đất, nhưng tại sao khi ông Q làm thủ tục chuyển nhượng cho chị H với anh G, bà P2 thì không thông báo cho anh P1 được biết.
Ngoài ra, không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Ngân hàng N1 có yêu cầu:
Ngày 20/10/2017, giữa chị H và Ngân hàng N1 có ký hợp đồng thế chấp số 02091711.089/HĐTC, giá trị tài sản đảm bảo là 1.400.000.000 đồng (tài sản thế chấp là 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Văn bản số 112/NNNoTPCL-KHKD ngày 24/7/2019), thủ tục thế chấp đã được phòng công chứng số 01 công chứng hợp pháp, các bên ký đầy đủ theo quy định có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C chứng nhận về việc thế chấp tài sản đăng ký theo nội dung kê khai tại cùng thời điểm.
Ngân hàng yêu cầu chị H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc còn lại là 780.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 19/9/2019 là 22.694.800 đồng, tổng cộng là 802.694.800 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi thanh toán nợ xong và đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật khi chị H không trả đủ hoặc không trả tiền vốn vay và lãi. Ngân hàng đồng ý trả lại các giấy chứng nhận đã thế chấp khi thu hồi đủ tiền vay và lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng N1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Do chị H đã tất toán toàn bộ khoản vay và đã nhận lại tài sản thế chấp.
3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
3.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Giao dịch dân sự ngày 19/01/2016 giữa anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với chị Nguyễn Thị Thu H là vô hiệu (hủy).
- Bà Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị N có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 667,2m² thuộc một phần thửa 425, loại đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm; diện tích đất 6.052,2m² thuộc thửa 426, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Một phần thửa 425 nằm trong phạm vi các mốc: M12-M18-M17-M1-M12; Thửa 426 nằm trong phạm vi các mốc M12-M15-M11-M13-M5-M4-M18-M12.
- Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn G1 có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 3.576,1m² thuộc một phần thửa 427, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Đất nằm trong phạm vi các mốc M13- M5-M6-M14-M13.
- Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 3.200m² thuộc một phần thửa 427, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Đất nằm trong phạm vi các mốc M16 – M11' – M8' – M9 – M16.
- Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, anh Thái Minh P1 và chị Nguyễn Thị Ngọc B có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 4.778,5m² thuộc một phần thửa 427, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Đất nằm trong phạm vi các mốc M6 – M7 – M8 – M14 – M6.
3.2 Chấp nhận yêu cầu tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2016 của anh Nguyễn Văn G và chị Phạm Thị L.
Giao dịch dân sự ngày 19/01/2016 giữa anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với chị Nguyễn Thị Thu H là vô hiệu (hủy)
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn G và chị Phạm Thị L về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2016 và điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chị H sang cho anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L đứng tên đối với thửa đất số 427, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Không chấp nhận của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2016 và điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chị H sang cho bà Nguyễn Thị P đứng tên đối với thửa đất số 425, 426, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
- Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Phước Đ1 và chị Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.200m² thuộc 01 phần thửa 427, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Đất nằm trong phạm vi các mốc M16 – M11' – M8' – M9 – M16.
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất (hợp đồng không ghi ngày tháng năm) giữa anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 tại một phần thửa 427, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
3.3 Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1.
Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 40 chỉ vàng 24kr.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015
3.4 Đình chỉ yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn G1 trả lại 01 phần đất có diện tích 936,8m² cùng công trình kiến trúc và cây trồng có trên phần đất thuộc thửa 425, tờ bản đồ số 7 trong phạm vi các mốc từ: Mốc M2-M3-M4-M18-M17-M2.
3.5 Đình chỉ yêu cầu độc lập của Ngân hàng N1 về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu H trả tiền vay.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm:
4.1 Anh Nguyễn Văn G và chị Phạm Thị L kháng cáo yêu cầu:
- Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh G, chị L.
- Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh G, chị L với chị H vào ngày 12/01/2016 và điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị H sang cho vợ chồng anh G đứng tên.
4.2 Bà Nguyễn Thị P yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án số 235/2023/DS-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh.
4.3 Anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 yêu cầu:
- Sửa toàn bộ bản án số 235/2023/DS-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Chấp nhận yêu cầu của anh Đ1, chị T1: Yêu cầu anh G, chị L, anh H1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận diện tích chuyển nhượng 3.200m² tại 01 phần thửa 427, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho anh Đ1, chị T1. Anh Đ1 chị T1 đồng ý trả cho anh G, chị L 50.000.000 đồng. Phần đất nằm trong phạm vi các mốc M10-M16-M9-M8'-M11'-M1.
4.4 Anh Thái Minh P1 yêu cầu sửa toàn bộ bản án số 235/2023/DS-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
4.5 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm theo hướng sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và những người liên quan.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị L; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1, anh Thái Minh P1 giữ nguyên kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Đặng Hồng Đ trình bày:
- Về nguồn gốc thửa 425, 426, 427 tờ bản đồ số 7 các đương sự đều thống nhất. Ngày 12/01/2016 chị H đã thỏa thuận nhận chuyển nhượng thửa 425, 426 với hộ bà P, thửa 427 với hộ anh G bao gồm quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản có trên đất với số tiền là 1.275.142.000 đồng, hợp đồng được công chứng hợp pháp tại Phòng công chứng Đồng Tháp. Tất cả thành viên trong hộ bà P, hộ anh G đều có ký tên, lăn tay vào hợp đồng, chị H đã giao đủ tiền cho vợ chồng anh G. Ngày 18/01/2016 Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp giấy chứng nhận cho chị H, chị H đã thực hiện quyền sử dụng của mình là thế chấp vay vốn tại Ngân hàng. Đến ngày 19/01/2016 vợ chồng anh G đã viết tờ thuê đất để thuê lại 03 thửa đất với giá 52.000.000 đồng/năm.
- Phía bị đơn hộ anh G, hộ bà P cho rằng là ký tên ủy quyền vay tiền chứ không ký tên chuyển nhượng nhưng không có gì chứng minh. Thời điểm ký hợp đồng thì chị N chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự, việc chị N bị ảnh hưởng chất độc da cam khác với với việc bị mất năng lực hành vi dân sự. Đồng thời anh G cho rằng ký tên ủy quyền vay vốn, nhưng khi biết chị H đã được đứng tên nhưng không tranh chấp, ngày 19/01/2016 vợ chồng anh G, chị L đã cùng ký vào tờ thuê đất do chị L soạn. Anh G cho rằng ông Q kêu ký tờ thuê đất để đối chiếu với chủ nợ mục đích để làm gì.
- Về số tiền chuyển nhượng: Chị H đã giao đủ tiền chuyển nhượng nên anh G, bà P đã giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ra phòng công chứng công chứng hợp đồng và chị H đi đăng ký quyền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận. Anh G nộp thuế thu nhập cá nhân, chị H nộp thuế trước bạ. Đối với số tiền trả cho Ngân hàng TMCP Đ3 để lấy giấy chứng nhận bản chính thì ông G khai rằng đang nợ rất nhiều người phải lẫn tránh thì làm sao có số tiền lớn để trả cho Ngân hàng. Thật chất là do ông Q đứng ra vay nợ giùm cho anh G từ ông Ú, bà T2, chị L2 và những người khác, anh G là người nhận tiền, việc này đã được ông Ú xác nhận tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C.
- Đối với hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng cố đất giữa anh G, chị L với anh P1, chị B, anh Đ1, chị T1 thì không được công chứng, chứng thực hợp lệ theo quy định của luật đất đai.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người liên quan.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh G, chị L, bà P, chị N ông Lê Ngọc T trình bày:
- Về 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2016 giữa chị H với hộ bà P và giữa chị H với hộ anh G là vi phạm về hình thức và nội dung.
- Thời điểm ký tên trên hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C2 thì chị N không có người giám hộ do bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (bị nhiễm chất độc da cam), bà P không biết chữ nhưng không được đọc lại nội dung hợp đồng nên yêu cầu tuyên bố Hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, ông là người có trình độ học vấn nhất định, nhiều lần thực hiện các thủ tục vay tiền ngân hàng nên việc ký vào hợp đồng công chứng từng trang thì không thể nói không biết nội dung hợp đồng. Đồng thời, ông cũng xác định khi biết được chị H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông cũng không khiếu nại lúc đó mà vẫn đồng ý ký hợp đồng thuê đất như vậy việc chuyển nhượng này là hoàn toàn tự nguyện không có ép buộc.
- Anh G, chị L và bà P cho rằng tại thời điểm ký tên bà P không biết chữ, chị N bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng Công chứng viên vẫn bắt lăn tay mà không có người giám hộ. Tuy nhiên, theo nội dung lời chứng của công chứng viên trong hợp đồng có ghi nhận “... Các bên giao kết đã nghe đọc, đọc lại hợp đồng này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng và đã ký, điểm chỉ vào hợp đồng này trước sự có mặt của tôi”. Bên cạnh đó, tại thời điểm chứng thực hợp đồng thì chị N chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự nên không cần người giám hộ.
- Theo Công văn số 10/CV-VPCCĐT ngày 25/11/2019 của Văn phòng C2 xác định việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành về công chứng.
Do đó, xác định việc các bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có thật. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định pháp luật nên hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực.
2.2. Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phước Đ1 và chị Nguyễn Thị T1:
- Anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 yêu cầu công nhận diện tích nhận chuyển nhượng 3.200m² thuộc 01 phần thửa 427, tờ bản đồ số 7 đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho anh Đ1, chị T1 theo quy định, anh Đ1, chị T1 đồng ý trả tiếp cho anh G, chị L 50.000.000 đồng, Hội đồng xét xử, xét thấy:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Đ1, chị T1 với anh G, chị L được thể hiện bằng giấy tay, chưa thông qua công chứng hoặc chứng thức tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chưa đảm bảo về mặt hình thức theo quy định tại Điều 167 Luật đất đai do đó Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh G, chị L với anh Đ1, chị T1 vô hiệu do vi phạm về hình thức. Do đó yêu cầu của yêu cầu của anh Đ1, chị T1 về việc công nhận diện tích nhận chuyển nhượng 3.200m² thuộc 01 phần thửa 427, tờ bản đồ số 7 đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho anh Đ1, chị T1 không được chấp nhận.
- Do hợp đồng vô hiệu nên phải giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, anh Đ1 và chị T1 trình bày: Trường hợp Tòa án xử không công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất diện tích 3.200m² giữa vợ chồng anh Đ1, chị T1 với vợ chồng anh G, chị L thì vợ chồng anh Đ1 cũng không yêu cầu vợ chồng anh G, chị L hoàn trả tiền chuyển nhượng (100.000.000 đồng) hay bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu khi nào có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Đối với hợp đồng cố đất thì anh Đ1, chị T1 yêu cầu hủy hợp đồng và yêu cầu anh G, chị L liên đới trả số vàng cố đất là 40 chỉ vàng 24 kr, Hội đồng xét xử xét thấy:
Anh Đ1, chị T1, anh G thừa nhận năm 2015 giữa anh Đ1, chị T1, anh G, chị L có ký tên vào hợp đồng cố đất (hợp đồng không đề ngày tháng năm), thỏa thuận anh G, chị L có cố cho anh Đ1, chị T1 phần đất 04 công với giá là 40 chỉ vàng 24kr. Anh G, chị L đã nhận đủ vàng, tuy nhiên anh G, chị L không giao đất cho anh Đ1, chị T1 mà thuê lại phần đất này để canh tác với giá là 2.000kg lúa/năm. Anh G, chị L đã trả được 01 năm thì ngưng cho đến nay.
Anh Đ1, chị T1 yêu cầu chấm dứt (hủy) hợp đồng cố đất và yêu cầu anh G, chị L liên đới trả số vàng cố đất là 40 chỉ vàng 24kr, anh G, chị L cũng đồng ý. Xét việc tự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm và không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân hay tổ chức nào khác nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự.
2.4. Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 yêu cầu chị H trả tiền vay vốn và lãi còn lại là phù hợp. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án chị H đã tất toán toàn bộ khoản vay và lãi cho Ngân hàng và đã nhận lại tài sản thế chấp, Ngân hàng có đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng N1.
2.5. Về các giao dịch cho thuê quyền sử dụng đất giữa anh G, chị L với Hợp tác xã D cũng như giao dịch cố đất giữa anh P1, chị B; giao dịch vay giữa anh G, chị L với ông Q; giao dịch cho thuê đất giữa anh P1, anh Đ1, chị T1 với vợ chồng anh G, chị L các bên đương sự trong giao dịch không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, khi nào có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
2.6. Việc cố, thuê đất anh P1 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này đợi khi nào giải quyết xong giữa G, Lan P2 với chị H anh sẻ thỏa thuận, thỏa thuận không được sẽ kiện sau bằng vụ kiện khác.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên là có hiệu lực là phù hợp nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1, anh Thái Minh P1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 235/2023/DS-ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
[3] Đối với số tiền chuyển nhượng theo hợp đồng là 700.000.000 đồng, thực tế theo nguyên đơn khai 1.275.142.000 đồng. Nếu các bên có tranh chấp hoặc có căn cứ cho rằng giao nhận chưa xong nhưng không có yêu cầu trong vụ án này thì được quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh và lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa yêu cầu chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và chấp nhận kháng cáo của các đương sự sửa án sơ thẩm là chưa phù hợp với nhận định tại mục [2] nên không chấp nhận.
[5] Xét lời trình bày của luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là phù hợp với nhận định tại mục [2] nên chấp nhận.
[6] Xét lời trình bày của luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là chưa phù hợp với nhận định tại mục [2] nên không chấp nhận.
[7] Về án phí phúc thẩm.
- Kháng cáo của : Ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1, anh Thái Minh P1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên Ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị P thuộc diện được miễn án phí dân sự phúc thẩm nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Văn G, bà Phạm Thị L; bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1, anh Thái Minh P1
3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 235/2023/DS-ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Giao dịch dân sự ngày 19/01/2016 giữa anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với chị Nguyễn Thị Thu H là vô hiệu (hủy).
2. Bà Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị N có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 667,2m² thuộc một phần thửa 425, loại đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm; diện tích đất 6.052,2m² thuộc thửa 426, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Một phần thửa 425 nằm trong phạm vi các mốc: M12-M18-M17-M1-M12; Thửa 426 nằm trong phạm vi các mốc M12-M15-M11-M13-M5-M4-M18-M12.
- Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn G1 có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 3.576,1m² thuộc một phần thửa 427, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Đất nằm trong phạm vi các mốc M13- M5-M6-M14-M13.
- Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 3.200m² thuộc một phần thửa 427, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Đất nằm trong phạm vi các mốc M16 – M11' – M8' – M9 – M16.
- Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, anh Thái Minh P1 và chị Nguyễn Thị Ngọc B có nghĩa trả lại quyền sử dụng diện tích đất 4.778,5m² thuộc một phần thửa 427, loại đất trồng lúa nước, cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất cho chị Nguyễn Thị Thu H. Đất nằm trong phạm vi các mốc M6 – M7 – M8 – M14 – M6.
2. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2016 của anh Nguyễn Văn G và chị Phạm Thị L.
Giao dịch dân sự ngày 19/01/2016 giữa anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với chị Nguyễn Thị Thu H là vô hiệu (hủy)
3. Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn G và chị Phạm Thị L về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2016 và điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chị H sang cho anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L đứng tên đối với thửa đất số 427, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Không chấp nhận của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2016 và điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chị H sang cho bà Nguyễn Thị P đứng tên đối với thửa đất số 425, 426, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
5. Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Phước Đ1 và chị Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.200m² thuộc 01 phần thửa 427, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Đất nằm trong phạm vi các mốc M16 – M11' – M8' – M9 – M16.
6. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất (hợp đồng không ghi ngày tháng năm) giữa anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 tại một phần thửa 427, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
7. Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L với anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1.
Anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 40 chỉ vàng 24kr.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015
8. Đình chỉ yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn G, chị Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn G1 trả lại 01 phần đất có diện tích 936,8m² cùng công trình kiến trúc và cây trồng có trên phần đất thuộc thửa 425, tờ bản đồ số 7 trong phạm vi các mốc từ: Mốc M2-M3-M4-M18-M17-M2.
9. Đình chỉ yêu cầu độc lập của Ngân hàng N1 về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu H trả tiền vay.
(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định ngày 11/6/2019, ngày 19/7/2019, ngày 30/10/2020, ngày 8/3/2023; Sơ đồ đo đạc được duyệt ngày 25/11/2019, Sơ đồ đo đạc ngày 30/10/2020)
10. Về chí phí tố tụng:
Chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tại chỗ là 15.960.000 đồng nguyên đơn (chị H) tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).
11. Về án phí:
* Án phí sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại 21.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006245 ngày 20/02/2019 và Biên lai số 0006553 ngày 10/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Anh Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị N chị Phạm Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 4.400.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 3.800.000 đồng Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003198 ngày 26/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh Đ1, chị T1 còn phải nộp tiếp 600.000 đồng.
- Anh Thái Minh P1, chị Nguyễn Thị Ngọc B mỗi người phải chịu 3.285.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại 17.840.000 đồng Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003192 ngày 22/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
* Về án phí phúc thẩm:
- Anh Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị P, bà Phạm Thị L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Anh Nguyễn Phước Đ1, chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000798 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Cao Lãnh.
- Anh Thái Minh P1 phải chịu chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000797 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Cao Lãnh
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi nhận: - Phòng GĐ-KT TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - TAND H. Cao Lãnh; - Chi cục THADS H. Cao Lãnh; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 325/2024/DS-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự - hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố, hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 325/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố, hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
